Hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công là vi phạm nghiêm trọng quyền sở hữu trí tuệ, tiềm ẩn rủi ro pháp lý lớn. Bài viết này sẽ phân tích quy định pháp luật và giải đáp thắc mắc, giúp doanh nghiệp phòng ngừa và xử lý hiệu quả tranh chấp này.

I. Thực trạng bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuỗi cung ứng phức tạp, việc thuê gia công sản phẩm đã trở thành một chiến lược phổ biến của nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, song song với những lợi ích về chi phí và năng lực sản xuất, thực trạng bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công đang ngày càng trở nên nhức nhối và là mối lo ngại lớn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp sở hữu các sản phẩm có thiết kế độc đáo, công nghệ riêng hoặc bí mật kinh doanh.

Trên thực tế, không ít doanh nghiệp Việt Nam và quốc tế đã phải đối mặt với tình huống oái oăm này. Một công ty thời trang thuê xưởng may gia công mẫu thiết kế mới, nhưng sau đó phát hiện chính xưởng gia công lại sản xuất và bán các mẫu tương tự ra thị trường với giá thấp hơn. Hay một doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử thuê gia công một bộ phận quan trọng, rồi bên nhận gia công lại dùng chính công nghệ được chuyển giao để sản xuất linh kiện đó cho đối thủ cạnh tranh. Những hành vi này không chỉ trực tiếp "cướp" đi thị phần, doanh thu của bên thuê mà còn làm mất đi giá trị tài sản trí tuệ, làm suy yếu năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu.

Nguyên nhân của thực trạng này thường xuất phát từ sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng gia công, sự yếu kém trong công tác bảo mật thông tin, và đặc biệt là sự thiếu ý thức pháp luật, cố tình trục lợi của một số bên nhận gia công. 

Chính vì vậy, việc nhận diện rõ ràng vấn đề và trang bị kiến thức pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp tự bảo vệ mình trong môi trường kinh doanh đầy thách thức này.

II. Tìm hiểu về bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công

Để có thể phòng chống và xử lý hiệu quả, trước hết doanh nghiệp cần nhận diện rõ các đối tượng có thể bị sao chép và những hệ lụy pháp lý đi kèm. Phần này, NPLaw sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan về vấn đề này.

1. Có những loại sản phẩm nào mà bên nhận có thể sao chép từ bên thuê gia công?

Thực tế cho thấy, bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công có thể xảy ra với rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, đặc biệt là những sản phẩm chứa đựng yếu tố sở hữu trí tuệ, bí mật công nghệ hoặc thiết kế độc đáo. Các loại sản phẩm phổ biến bao gồm:

  • Sản phẩm có kiểu dáng công nghiệp: Các sản phẩm có hình dáng bên ngoài độc đáo, mới lạ như đồ gia dụng, thời trang, phụ tùng xe cộ, đồ chơi... mà bên thuê đã đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.
  • Sản phẩm chứa đựng bí mật kinh doanh/công nghệ: Ví dụ, công thức hóa học, quy trình sản xuất đặc biệt, danh sách khách hàng, dữ liệu kỹ thuật, phần mềm độc quyền được áp dụng vào sản phẩm.
  • Sản phẩm có bản quyền tác giả: Ví dụ như các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng (thiết kế đồ họa trên sản phẩm, bao bì), các bản vẽ kỹ thuật, mã nguồn phần mềm, nhạc hiệu... được tích hợp trong sản phẩm.
  • Sản phẩm mang nhãn hiệu độc quyền: Bên nhận có thể sao chép cả nhãn hiệu trên sản phẩm, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
  • Sản phẩm có chỉ dẫn địa lý: Các sản phẩm đặc trưng của một vùng địa lý nhất định.

Hầu hết các loại sản phẩm đều có nguy cơ bị bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công, đặc biệt là những sản phẩm có yếu tố sở hữu trí tuệ.

2. Bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công có thể dẫn đến những vấn đề gì?

Hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công có thể dẫn đến hàng loạt các vấn đề nghiêm trọng cho cả bên thuê và bản thân bên nhận vi phạm:

  • Đối với bên thuê gia công:
    • Mất doanh thu và thị phần: Sản phẩm bị sao chép được bán ra thị trường với giá thấp hơn, cạnh tranh trực tiếp, làm giảm doanh thu và thị phần của sản phẩm gốc.
    • Thiệt hại uy tín và thương hiệu: Sản phẩm sao chép thường có chất lượng kém hơn, làm ảnh hưởng đến hình ảnh thương hiệu và niềm tin của khách hàng vào sản phẩm gốc.
    • Mất lợi thế cạnh tranh: Bí mật kinh doanh, công nghệ độc quyền bị tiết lộ khiến doanh nghiệp mất đi ưu thế trên thị trường.
    • Chi phí pháp lý: Bên thuê phải tốn kém chi phí và thời gian để theo đuổi các vụ kiện tụng nhằm bảo vệ quyền lợi.
  • Đối với bên nhận sao chép (bên vi phạm):
    • Bị xử phạt hành chính: Nếu hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ bị phát hiện.
    • Bị yêu cầu bồi thường thiệt hại: Phải bồi thường cho bên thuê các khoản thiệt hại thực tế đã gây ra.
    • Bị cấm sản xuất, kinh doanh: Bị buộc phải ngừng ngay việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm sao chép.
    • Bị xử lý hình sự: Trong các trường hợp vi phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    • Mất uy tín: Danh tiếng bị ảnh hưởng, khó có thể tìm được đối tác gia công mới.

Như vậy, hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công gây ra thiệt hại lớn về kinh tế và uy tín cho bên thuê, đồng thời kéo theo những hậu quả pháp lý nặng nề cho chính bên vi phạm.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối đầy đủ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thuê gia công. Phần này, NPLaw sẽ giúp bạn nắm vững các quy định này là chìa khóa để xử lý vi phạm.

1. Có những quy định pháp lý nào điều chỉnh việc bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công không?

Hành vi bên nhận gia công tự ý sao chép sản phẩm của bên thuê để sản xuất hoặc kinh doanh riêng là hành vi bị điều chỉnh nghiêm ngặt bởi hệ thống pháp luật về Hợp đồng và Sở hữu trí tuệ.

Thứ nhất, về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và bảo mật. Căn cứ Điều 181 về quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công và 182 về quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công theo Luật Thương mại 2005, bên nhận gia công có nghĩa vụ giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra nếu có thỏa thuận. Nếu bên nhận gia công sao chép sản phẩm dựa trên bản vẽ, khuôn mẫu do bên thuê cung cấp, họ đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và xâm phạm Bí mật kinh doanh được bảo hộ tại khoản 23 Điều 4 về định nghĩa bí mật kinh doanh và Điều 127 về hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022. Hành vi bộc lộ hoặc sử dụng thông tin bí mật mà không được phép là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, về vi phạm các đối tượng Sở hữu công nghiệp. Nếu sản phẩm gia công đã được bên thuê đăng ký bảo hộ, việc sao chép sẽ vi phạm trực tiếp các quyền sau theo Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022 về quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp và Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, theo đó:

  • Kiểu dáng công nghiệp: Sao chép hình dáng bên ngoài của sản phẩm (Điều 126 quy định hành vi sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà không được phép của chủ sở hữu là xâm phạm).
  • Sáng chế/Giải pháp hữu ích: Sử dụng kết cấu kỹ thuật, quy trình bên trong sản phẩm đã được cấp bằng độc quyền (khoản 1 Điều 125 Luật này quy định chủ sở hữu có quyền ngăn cấm người khác sản xuất, sử dụng, khai thác sáng chế).
  • Nhãn hiệu: Gắn nhãn hiệu của bên thuê lên sản phẩm tự sao chép để bán là hành vi làm hàng giả mạo nhãn hiệu (Điều 129 Luật này quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu).

Thứ ba, về vi phạm Quyền tác giả. Đối với các sản phẩm mang tính sáng tạo nghệ thuật, bản vẽ thiết kế, bao bì hoặc phần mềm, hành vi sao chép trái phép bị coi là xâm phạm quyền tác giả theo khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2022, quy định hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm.

Tóm lại, pháp luật cấm bên nhận gia công sao chép sản phẩm thông qua hai lớp khóa: một là cam kết trong hợp đồng gia công và hai là các quyền độc quyền được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022.

2. Bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công có thể bị xử phạt nếu vi phạm luật bản quyền không?

Nếu bên nhận gia công sao chép sản phẩm mà vi phạm quyền tác giả (thường gọi là bản quyền) hoặc các quyền sở hữu công nghiệp khác, họ sẽ phải đối mặt với ba loại trách nhiệm pháp lý theo cấp độ tăng dần:

Thứ nhất là Xử phạt vi phạm hành chính. Căn cứ Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan, hành vi sao chép lậu có thể bị phạt tiền và buộc tiêu hủy tang vật. Cụ thể, Điều 18 của Nghị định này quy định mức phạt tiền đối với hành vi xâm phạm quyền sao chép tác phẩm với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng, buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng (cụm từ này được thay thế bởi Khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP) và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Ngoài ra, nếu vi phạm về kiểu dáng công nghiệp hay nhãn hiệu, bên nhận gia công sẽ bị xử phạt theo Nghị định 99/2013/NĐ-CP, cụ thể khoản 13 Điều 11 của Nghị định này (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Nghị định 126/2021/NĐ-CP), hành vi vi phạm này có thể bị phạt tiền bằng 1,2 lần mức tiền phạt quy định từ Khoản 1 đến Khoản 12 Điều này nhưng không vượt quá 250.000.000 đồng, buộc  loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm, uộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp và nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

Thứ hai là trách nhiệm Dân sự (Bồi thường thiệt hại). Trách nhiệm này không chỉ được quy định tại luật chuyên ngành mà còn bắt nguồn từ những nguyên tắc cơ bản nhất của Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể, theo Điều 13 về bồi thường thiệt hại và Điều 584 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật ghi nhận nguyên tắc người nào có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (trong trường hợp này là quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm gia công) mà gây thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ. Đồng thời, Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 cũng nhấn mạnh thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Trên cơ sở đó, áp dụng cụ thể vào lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Tòa án sẽ căn cứ Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022 để buộc bên vi phạm phải chấm dứt hành vi, xin lỗi, cải chính công khai.

Thứ ba là Trách nhiệm Hình sự. Đây là chế tài nghiêm khắc nhất. 

  • Nếu hành vi sao chép có quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính lớn (từ 50 triệu đồng trở lên) hoặc gây thiệt hại lớn cho chủ sở hữu (từ 100 triệu đồng trở lên), cá nhân thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017). Hình phạt cao nhất có thể lên tới 05 năm tù.
  • Nếu sản phẩm là hàng giả mạo nhãn hiệu, người vi phạm còn có thể bị truy cứu về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, 2025) hoặc Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) với hình phạt rất nặng.

Như vậy, hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công nếu xâm phạm quyền tác giả sẽ phải đối mặt với các hình thức xử phạt từ hành chính, dân sự đến hình sự tùy theo mức độ vi phạm.

3. Những vi phạm nào thường gặp khi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công?

Hành vi bên nhận gia công tận dụng khuôn mẫu, bản vẽ hoặc bí quyết kỹ thuật của bên đặt gia công để tự ý sản xuất và kinh doanh là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Dưới đây là các nhóm hành vi vi phạm cụ thể:

Thứ nhất, về hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với bản vẽ và thiết kế. Nếu bên nhận gia công tự ý nhân bản các bản vẽ kỹ thuật, thiết kế bao bì, hoặc mã nguồn phần mềm mà không có sự đồng ý của bên đặt gia công, họ đã vi phạm quyền độc quyền sao chép tác phẩm. Theo khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022 quy định hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi xâm phạm quyền tác giả.

Thứ hai, về hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp. Đây là vi phạm phổ biến nhất khi bên gia công sản xuất ra sản phẩm có hình dáng bên ngoài hoàn toàn giống hoặc không khác biệt đáng kể với sản phẩm họ đang gia công thuê. Theo khoản 2 Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022 quy định hành vi xâm phạm bao gồm việc sử dụng kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó (bao gồm sản xuất, bán, quảng cáo...) mà không được phép của chủ sở hữu. 

Thứ ba, về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Nếu bên nhận gia công không chỉ sao chép hình dáng mà còn gắn cả logo, tên thương hiệu của bên đặt gia công (hoặc một dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn) lên sản phẩm để bán ra thị trường, đây là hành vi làm giả nhãn hiệu. Theo điểm b khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022 quy định hành vi xâm phạm bao gồm việc sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa cùng loại mà không được phép.

Thứ tư, về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Trong quá trình gia công, bên nhận thường được tiếp cận công thức, quy trình kỹ thuật hoặc danh sách khách hàng. Việc sử dụng các thông tin này cho mục đích riêng là vi phạm. Theo điểm b, c Khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022 quy định hành vi xâm phạm bao gồm: bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu và vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt,... để tiếp cận, thu thập và làm bộc lộ bí mật kinh doanh. 

Thứ năm, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong hoạt động thương mại. Ngoài các quy định về sở hữu trí tuệ, hành vi này còn vi phạm trực tiếp Luật Thương mại về nghĩa vụ của bên nhận gia công. Theo khoản 5 Điều 182 Luật Thương mại 2005 quy định rõ bên nhận gia công có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia công hàng hoá. Đồng thời, hành vi này vi phạm nghĩa vụ giữ bí mật thông tin theo khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự 2015.

Tóm lại, việc bên nhận gia công tự ý sao chép sản phẩm không chỉ đơn thuần là vi phạm hợp đồng mà là sự vi phạm tổng hợp nhiều quyền sở hữu trí tuệ (Tác giả, Kiểu dáng, Nhãn hiệu, Bí mật kinh doanh), đối mặt với rủi ro bị xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại dân sự và thậm chí là trách nhiệm hình sự nếu quy mô lớn.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công

NPLaw nhận thấy, khi đối mặt với tình huống này, các doanh nghiệp thường có nhiều băn khoăn về quy trình và cách thức xử lý. Dưới đây là giải đáp cho các câu hỏi phổ biến nhất.

1. Luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ quy định như thế nào đối với bên nhận sao chép sản phẩm?

Theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, hành vi của Bên nhận (bên nhận gia công/sản xuất) tự ý sao chép, sản xuất thêm hoặc sử dụng trái phép mẫu mã, bí quyết của Bên thuê là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nghiêm trọng. Cụ thể:

Thứ nhất, về xác định hành vi xâm phạm, tùy thuộc vào đối tượng được bảo hộ, hành vi của Bên nhận sẽ vi phạm các điều khoản sau:

  • Nếu sao chép bản vẽ thiết kế, hình ảnh bao bì: Đây là hành vi xâm phạm quyền tác giả theo khoản 6 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022, quy định hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả là vi phạm.
  • Nếu sản xuất sản phẩm có kiểu dáng giống hệt hoặc tương tự gây nhầm lẫn với kiểu dáng đã đăng ký của Bên thuê: Đây là hành vi xâm phạm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp theo khoản 1 Điều 126 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022, cấm người khác sử dụng kiểu dáng công nghiệp (bao gồm sản xuất, lưu thông, quảng cáo...) mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu.
  • Nếu sử dụng công thức, quy trình kỹ thuật được Bên thuê cung cấp để sản xuất riêng: Đây là hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh theo điểm b khoản 1 Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022, quy định cấm hành vi bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu.

Thứ hai, về nguyên tắc xử lý, căn cứ khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2019, 2022, bên thuê (với tư cách là chủ thể quyền) có quyền tự bảo vệ bằng cách áp dụng các biện pháp công nghệ, yêu cầu Bên nhận chấm dứt hành vi, hoặc khởi kiện ra Tòa án/Trọng tài. Pháp luật nghiêm cấm Bên nhận lợi dụng việc tiếp cận tài sản trí tuệ trong quá trình gia công để trục lợi riêng.

Như vậy, pháp luật đã cung cấp khung pháp lý mạnh mẽ để chủ sở hữu quyền chống lại hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công, với nhiều biện pháp xử lý khác nhau.

2. Trong trường hợp vi phạm, bên thuê có thể yêu cầu gì từ bên nhận?

Khi phát hiện Bên nhận có hành vi sao chép trái phép, căn cứ vào Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022 về các biện pháp dân sự, bên thuê có quyền yêu cầu Tòa án buộc Bên nhận phải thực hiện các nghĩa vụ sau để khắc phục hậu quả:

Một là, buộc chấm dứt hành vi xâm phạm (khoản 1 Điều 202). Bên nhận phải dừng ngay lập tức việc sản xuất, buôn bán hoặc quảng cáo các sản phẩm sao chép trái phép.

Hai là, buộc xin lỗi, cải chính công khai (khoản 2 Điều 202). Biện pháp này áp dụng khi hành vi vi phạm làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của Bên thuê.

Ba là, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự (khoản 3 Điều 202). Trong trường hợp hai bên có ký kết hợp đồng gia công hoặc cam kết bảo mật (NDA), Bên thuê có quyền yêu cầu Bên nhận thực hiện đúng các cam kết, phạt vi phạm hợp đồng.

Bốn là, buộc bồi thường thiệt hại (khoản 4 Điều 202). Đây là chế tài quan trọng nhất. Căn cứ Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi bởi Khoản 11 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019, mức bồi thường được xác định dựa trên: tổn thất thực tế về vật chất (bao gồm lợi nhuận bị mất, chi phí kinh doanh phát sinh), khoản lợi nhuận mà Bên nhận thu được bất chính từ việc sao chép hoặc tổn thất về tinh thần. Bên thuê cũng có quyền yêu cầu thanh toán chi phí thuê luật sư.

Năm là, buộc tiêu hủy hoặc phân phối không nhằm mục đích thương mại (khoản 5 Điều 202). Bên thuê có quyền yêu cầu tiêu hủy toàn bộ hàng hóa sao chép, nguyên liệu và phương tiện chủ yếu dùng để sản xuất hàng giả/hàng nhái đó, đảm bảo chúng không thể quay lại thị trường gây hại cho người tiêu dùng.

Ngoài ra, trong tình huống cấp bách, để ngăn chặn tẩu tán tang vật, Bên thuê có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời (như thu giữ, niêm phong, phong tỏa tài khoản) theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2009, 2019, 2022.

Tóm lại, pháp luật sở hữu trí tuệ trao cho bên thuê quyền lực rất lớn để trừng phạt hành vi ăn cắp chất xám của bên nhận, từ việc buộc dừng sản xuất đến bồi thường toàn bộ thiệt hại kinh tế và tiêu hủy tang vật.

3. Quy trình pháp lý nào cần thực hiện nếu bên thuê muốn kiện bên nhận vì việc sao chép không hợp pháp?

Để khởi kiện bên nhận gia công về hành vi sao chép sản phẩm trái phép, bên thuê cần tuân thủ quy trình tố tụng chặt chẽ theo Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 và Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022. Quy trình bao gồm các bước trọng yếu sau:

Bước 1: Thu thập chứng cứ và Giám định sở hữu trí tuệ (Quan trọng nhất). Trước khi khởi kiện, theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, bên thuê có nghĩa vụ chứng minh mình là chủ thể quyền và chứng minh hành vi xâm phạm. Các chứng cứ bao gồm:

  • Văn bằng bảo hộ (Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp...) hoặc tài liệu chứng minh quyền tác giả.
  • Hợp đồng gia công có điều khoản bảo mật và cam kết không sao chép.
  • Mẫu vật sản phẩm vi phạm của bên nhận và mẫu vật gốc.
  • Kết luận giám định sở hữu trí tuệ: Đây là tài liệu then chốt do Viện Khoa học sở hữu trí tuệ (VIPRI) cấp, xác nhận sản phẩm của bên nhận có yếu tố xâm phạm quyền của bên thuê hay không.

Bước 2: Gửi Thư cảnh báo. Thực hiện quyền tự bảo vệ theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2019, 2022, bên thuê (thông qua đại diện pháp lý) gửi văn bản yêu cầu bên nhận chấm dứt hành vi, thu hồi sản phẩm và bồi thường. Đây là bước tiền tố tụng nhằm thể hiện thiện chí và củng cố hồ sơ khởi kiện nếu bên nhận không hợp tác.

Bước 3: Khởi kiện tại Tòa án hoặc Yêu cầu xử lý hành chính, cụ thể:

  • Biện pháp Dân sự: Nộp đơn khởi kiện kèm chứng cứ tại Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền (thường là Tòa án nơi bị đơn cư trú/đặt trụ sở) theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025. Mục đích là đòi bồi thường thiệt hại và buộc chấm dứt hành vi.
  • Biện pháp Hành chính: Nếu muốn xử lý nhanh chóng để ngăn chặn hành vi (nhưng không đòi được bồi thường tiền), bên thuê có thể nộp đơn yêu cầu xử phạt tới Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ (với quyền sở hữu công nghiệp) hoặc Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (với quyền tác giả).

Bước 4: Tham gia tố tụng và Thi hành án. Tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bên nhận không tự nguyện chấp hành, bên thuê có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành.

Tóm lại, quy trình pháp lý khi kiện bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về chứng cứ và sự kiên trì theo đuổi quy trình tố tụng.

4. Bên thuê có cần phải chứng minh thiệt hại khi khởi kiện bên nhận sao chép sản phẩm không?

Theo nguyên tắc người kiện phải chứng minh, bên thuê bắt buộc phải chứng minh thiệt hại thực tế để làm căn cứ cho Tòa án quyết định mức bồi thường. Theo Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi 2022 quy định cụ thể về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại. Theo đó, bên thuê có thể lựa chọn một trong các phương pháp sau để yêu cầu bồi thường:

  • Thiệt hại vật chất: Chứng minh sự tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, hoặc chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại (ví dụ: chi phí thuê luật sư, chi phí giám định).
  • Giá chuyển giao quyền sử dụng: Yêu cầu một khoản tiền bằng giá trị chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ (tiền bản quyền/li-xăng) với giả định bên nhận được bên thuê cho phép sử dụng hợp pháp.

Như vậy, việc chứng minh thiệt hại là điều kiện tiên quyết để được bồi thường khi khách hàng kiện doanh nghiệp vì giảm vốn. 

5. Những rủi ro pháp lý nào có thể xảy ra với bên nhận khi sao chép sản phẩm của bên thuê?

Hành vi sao chép sản phẩm khi đang thực hiện hợp đồng gia công không chỉ vi phạm hợp đồng mà còn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đẩy bên nhận vào 03 nhóm rủi ro pháp lý chính:

Thứ nhất, rủi ro hành chính. Bên nhận có thể bị xử phạt tiền rất nặng, bị đình chỉ hoạt động có thời hạn và buộc tiêu hủy tang vật/phương tiện vi phạm. Theo khoản 13 Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Nghị định 126/2021/NĐ-CP  về xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp thì có thể bi phạt từ 500.000 đồng đến không vượt quá 250.000.000 đồng và buộc phải đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng, buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu hủy yếu tố vi phạm, buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem, nhãn, bao bì, vật phẩm vi phạm,...hoặc Điều 18 Nghị định 131/2013/NĐ-CP, sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 3 Nghị định 28/2017/NĐ-CP thì phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và buộc dỡ bỏ bản sao tác phẩm vi phạm dưới hình thức điện tử, trên môi trường mạng và kỹ thuật số hoặc buộc tiêu hủy tang vật vi phạm.

Thứ hai, rủi ro dân sự. Bên nhận phải đối mặt với vụ kiện tại Tòa án và chịu các chế tài theo Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi 2009, 2019, 2022:

  • Buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai.
  • Bồi thường thiệt hại: Bao gồm bồi thường tổn thất vật chất (như đã phân tích ở Mục 4), bồi thường tổn thất tinh thần và thanh toán chi phí luật sư cho bên thuê.
  • Phạt vi phạm hợp đồng: Ngoài bồi thường theo luật SHTT, bên nhận còn phải chịu phạt vi phạm hợp đồng gia công (thường là 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm theo Luật Thương mại 2005 hoặc mức phạt thỏa thuận trong Hợp đồng dân sự).

Thứ ba, rủi ro hình sự. Đây là rủi ro nghiêm trọng nhất. Nếu hành vi sao chép có quy mô thương mại, thu lợi bất chính lớn hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng, cá nhân/pháp nhân thương mại bên nhận có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như:

  • Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017).
  • Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017).

Tóm lại, việc sao chép sản phẩm của bên thuê không chỉ dẫn đến nguy cơ phá sản do đền bù thiệt hại mà còn đe dọa trực tiếp đến sự tự do của người đứng đầu doanh nghiệp gia công.

V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công?

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và xử lý hành vi bên nhận sao chép sản phẩm của bên thuê gia công là một cuộc chiến pháp lý phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về Luật Sở hữu trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn.

Nếu bạn là doanh nghiệp đang phải đối mặt với việc sản phẩm của mình bị sao chép trong quá trình gia công, hoặc cần tư vấn để xây dựng các điều khoản bảo mật chặt chẽ trong hợp đồng gia công để phòng ngừa rủi ro, hãy liên hệ với NPLaw ngay hôm nay.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.