Sau khi ly hôn, việc chăm sóc và nuôi dạy con cái là vấn đề quan trọng mà cả hai bên cần quan tâm. Theo quy định của pháp luật, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc con theo thỏa thuận hoặc quyết định của tòa án. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều trường hợp một bên cố tình cản trở hoặc không cho phép người còn lại thực hiện quyền này, gây ra tranh chấp và ảnh hưởng đến lợi ích của trẻ. Vậy hành vi không cho thăm con sau ly hôn có vi phạm pháp luật không? Nếu bị ngăn cản quyền thăm con, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con có thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn làm rõ những vấn đề này.

Sau đây, kính mời quý độc giả hãy cùng NPLAW tìm hiểu các vấn đề liên quan đến không cho thăm con sau khi ly hôn nhé!

I. Thực trạng không cho thăm con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp cha mẹ nuôi con đã cố tình cản trở, hạn chế hoặc không cho phép người còn lại thực hiện quyền thăm con.

Nguyên nhân của tình trạng này có thể xuất phát từ mâu thuẫn sau ly hôn, cảm xúc tiêu cực như giận dữ, tổn thương, hoặc quan niệm sai lầm rằng người không nuôi con không có trách nhiệm gắn bó với con cái. Một số trường hợp còn lợi dụng việc không cho thăm con để gây áp lực tài chính hoặc tình cảm đối với người còn lại.

Hậu quả của việc cản trở quyền thăm con không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của cha/mẹ mà còn tác động tiêu cực đến tâm lý, sự phát triển của trẻ. Việc bị tách rời khỏi một trong hai người thân thiết có thể khiến trẻ cảm thấy hụt hẫng, thiếu thốn tình cảm, thậm chí dẫn đến những vấn đề tâm lý như lo âu, trầm cảm hoặc rối loạn hành vi.

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của cha mẹ và con cái sau ly hôn, nhưng việc thực thi các quy định này vẫn còn nhiều khó khăn. Không ít trường hợp người bị cản trở quyền thăm con không biết cách xử lý, trong khi các chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm chưa thực sự nghiêm khắc hoặc chưa được áp dụng hiệu quả.

II. Quy định pháp lý về việc không cho thăm con sau khi ly hôn

1. Không cho thăm con sau khi ly hôn được hiểu thế nào?

Hiện nay, pháp luật vẫn chưa có khái niệm hay định nghĩa cụ thể về việc không cho thăm con sau khi ly hôn. Tuy nhiên, hành vi không cho thăm con sau khi ly hôn có thể được hiểu là hành vi của người trực tiếp nuôi con ngăn cản hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con của người không trực tiếp nuôi dưỡng. Hành vi này có thể biểu hiện qua nhiều hình thức như:

(i) Từ chối cho gặp con với lý do không chính đáng.

(ii) Cố tình thay đổi nơi cư trú của con mà không thông báo, gây khó khăn cho người còn lại trong việc thực hiện quyền thăm nom.

(iii) Ép buộc con không gặp gỡ cha/mẹ thông qua tác động tâm lý hoặc giáo dục sai lệch.

(iv) Đặt ra các điều kiện không hợp lý để gây khó khăn trong việc gặp con, như yêu cầu phải chu cấp tài chính mới được thăm con.

2. Không cho thăm con sau khi ly hôn có là hành vi xâm phạm quyền lợi của cha mẹ không?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Như vậy, việc không cho thăm con sau khi ly hôn là hành vi xâm phạm quyền lợi của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

3. Xử lý thế nào đối với hành vi không cho thăm con sau khi ly hôn?

Theo Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau:

“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Như vậy, người cha không cho mẹ thực hiện quyền thăm, gặp con mình sau ly hôn sẽ có thể bị phạt lên đến 10 triệu đồng.

III. Một số thắc mắc về việc không cho thăm con sau khi ly hôn

1. Những hành vi nào có thể xem là không cho thăm con sau khi ly hôn?

Như đã phân tích, pháp luật không quy định cụ thể định nghĩa của hành vi được xem là không cho thăm con sau ly hôn. Tuy nhiên, hành vi không cho thăm con sau khi ly hôn có thể được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm nhưng không giới hạn ở các trường hợp sau:

(i) Cấm đoán tuyệt đối: Người trực tiếp nuôi con không cho bên còn lại gặp gỡ, chăm sóc, giáo dục con mà không có lý do chính đáng.

(ii) Gây khó khăn, cản trở: Đưa ra các điều kiện vô lý hoặc cố tình sắp xếp lịch trình dày đặc để hạn chế việc thăm con.

(iii) Di dời chỗ ở không thông báo: Tự ý chuyển nơi cư trú của con mà không thông báo hoặc che giấu thông tin để bên kia không thể tìm gặp con.

(iv) Tác động tâm lý tiêu cực đến con: Gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý của trẻ, xúi giục hoặc ép buộc con không muốn gặp cha/mẹ.

(v) Ràng buộc tài chính: Yêu cầu chu cấp tiền bạc hoặc thực hiện các điều kiện tài chính khác mới cho phép thăm con.

(vi) Từ chối giao tiếp, liên lạc: Ngăn cản các phương thức liên lạc giữa con và người không trực tiếp nuôi dưỡng, bao gồm gọi điện, nhắn tin hoặc gặp gỡ trực tiếp.

2. Không cho thăm con sau khi ly hôn có bị phạt tiền không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP về mức xử phạt đối với hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau:

“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp sau khi ly hôn mà người chồng ngăn cản vợ cũ đến thăm nom con có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án.

3. Không cho thăm con sau khi ly hôn do không cấp dưỡng nuôi con thì có được không?

Căn cứ tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và cấp dưỡng cho con theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án trong bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật.”

Đồng thời, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Có thể thấy pháp luật không đòi hỏi đương sự phải thực hiện nghĩa vụ này thì mới được hưởng quyền kia và ngược lại. Do vậy, việc người không trực tiếp nuôi con không chu cấp cho con sau ly hôn không ảnh hưởng đến việc thăm con, đồng nghĩa họ vẫn có quyền thăm gặp con mà không ai có quyền ngăn cản, trừ khi người đó đã bị Tòa án hạn chế quyền thăm con.

Tuy nhiên, việc không cấp dưỡng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án là hành vi vi phạm pháp luật. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xem xét, quyết định buộc người không trực tiếp nuôi con phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

4. Người trực tiếp nuôi con có quyền hạn chế thời gian thăm con của bên còn lại không?

Theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người trực tiếp nuôi con không có quyền cản trở cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, trừ trường hợp việc thăm con gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người trực tiếp nuôi con có thể đề nghị Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét để hạn chế quyền thăm con của bên còn lại, nếu có căn cứ cho thấy việc thăm nom có thể gây hại đến sức khỏe, tinh thần hoặc sự phát triển bình thường của con. Một số trường hợp có thể dẫn đến hạn chế thời gian thăm con bao gồm:

(i) Người không trực tiếp nuôi con có hành vi bạo lực, lạm dụng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến con.

(ii) Người thăm con lợi dụng quyền này để quấy rối, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của người trực tiếp nuôi con.

(iii) Có bằng chứng cho thấy người thăm con cố ý xúi giục, kích động con có thái độ tiêu cực đối với người trực tiếp nuôi dưỡng.

Trong những trường hợp này, người trực tiếp nuôi con có thể làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét và ra quyết định hạn chế quyền thăm nom hoặc điều chỉnh thời gian thăm con để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ.

5. Có thể yêu cầu thi hành án để đảm bảo quyền thăm con sau ly hôn không?

Như đã phân tích tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nếu một bên cố tình cản trở quyền thăm con của bên còn lại, người bị hạn chế quyền thăm con có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự can thiệp để thực thi bản án hoặc quyết định của Tòa án về quyền thăm nom con.

IV. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn về vấn đề không cho thăm con sau khi ly hôn? 

Trong bối cảnh pháp lý phức tạp hiện nay, việc tìm kiếm sự tư vấn từ luật sư là một giải pháp hiệu quả giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Luật sư có thể hỗ trợ khách hàng trong việc xác định căn cứ pháp lý, thu thập chứng cứ và thực hiện các thủ tục yêu cầu thi hành án nếu quyền thăm nom con bị cản trở.