Giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng là phương thức giúp chủ sở hữu quyền đối với giống cây trồng khai thác giá trị thương mại thông qua việc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong phạm vi thỏa thuận. Tuy nhiên, quá trình chuyển quyền sử dụng cần đáp ứng các điều kiện pháp luật, đồng thời xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên để bảo đảm hiệu quả khai thác và hạn chế rủi ro tranh chấp.
I. Xu hướng khai thác quyền đối với giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng
Trong xu hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng ngày càng được nhiều doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và chủ sở hữu quyền quan tâm nhằm khai thác hiệu quả giá trị thương mại của tài sản trí tuệ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019, 2022, 2025 (sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi), quyền đối với giống cây trồng là một trong những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật bảo hộ. Thông qua hợp đồng li-xăng, chủ sở hữu có thể chuyển quyền sử dụng giống cây trồng cho bên khác để thực hiện hoạt động nhân giống, sản xuất, kinh doanh trong phạm vi thỏa thuận, từ đó mở rộng thị trường và tối ưu hóa lợi ích kinh tế.

Bên cạnh việc tạo điều kiện cho quá trình thương mại hóa giống cây trồng, giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng còn góp phần thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, khai thác nguồn gen có giá trị và nâng cao năng lực sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, việc khai thác quyền đối với giống cây trồng cần được kiểm soát thông qua các điều khoản hợp đồng phù hợp, đặc biệt về phạm vi sử dụng, quyền nhân giống, tiêu chuẩn chất lượng và trách nhiệm của các bên nhằm bảo đảm duy trì đặc tính của giống cũng như hạn chế tranh chấp phát sinh.
II. Tìm hiểu về giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng
Việc hiểu rõ bản chất, phạm vi quyền sử dụng và các đối tượng liên quan là cơ sở quan trọng để các bên khai thác hiệu quả giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng.
1. Giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng được hiểu như thế nào?
Giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng là đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được chủ bằng bảo hộ cho phép tổ chức, cá nhân khác khai thác, sử dụng trong phạm vi nhất định thông qua thỏa thuận li-xăng. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, đối tượng quyền đối với giống cây trồng bao gồm vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.
Theo đó, quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyền của chủ bằng bảo hộ giống cây trồng. Chủ sở hữu có thể khai thác quyền này bằng cách trực tiếp sản xuất, kinh doanh hoặc cho phép chủ thể khác sử dụng thông qua hợp đồng li-xăng. Khác với chuyển nhượng quyền đối với giống cây trồng là việc chuyển giao toàn bộ quyền cho bên nhận chuyển nhượng theo Điều 194 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 25 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, hợp đồng li-xăng chỉ làm phát sinh quyền sử dụng giống cây trồng trong phạm vi, thời hạn và điều kiện mà các bên đã thỏa thuận.
Như vậy, giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng được xem là tài sản trí tuệ có thể được khai thác thương mại thông qua việc chuyển quyền sử dụng, trong đó các bên cần xác định rõ phạm vi nhân giống, sản xuất, kinh doanh, trách nhiệm duy trì đặc tính của giống và các giới hạn sử dụng để tránh phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng.
2. Những đối tượng nào liên quan đến giống cây trồng có thể được chuyển quyền sử dụng trong hợp đồng li-xăng?
Trong giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng, đối tượng được chuyển quyền sử dụng chủ yếu là các đối tượng thuộc phạm vi quyền đối với giống cây trồng đã được bảo hộ. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009, đối tượng quyền đối với giống cây trồng bao gồm vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.
Cụ thể, các đối tượng có thể được chuyển quyền sử dụng thông qua hợp đồng li-xăng gồm:
- Vật liệu nhân giống: Là bộ phận của giống cây trồng có khả năng phát triển thành cây mới, được sử dụng cho mục đích nhân giống hoặc gieo trồng. Đây là đối tượng quan trọng trong hoạt động li-xăng vì thường gắn với quyền sản xuất, nhân giống và cung cấp giống ra thị trường.
- Vật liệu thu hoạch: Là sản phẩm thu được từ quá trình gieo trồng vật liệu nhân giống của giống cây trồng được bảo hộ. Trong một số trường hợp, việc khai thác vật liệu thu hoạch cũng có thể thuộc phạm vi quyền của chủ bằng bảo hộ và được thỏa thuận chuyển quyền sử dụng cho bên nhận li-xăng.
Ngoài các vật liệu thuộc đối tượng bảo hộ, hợp đồng li-xăng còn có thể quy định quyền khai thác gắn với giống cây trồng như quyền nhân giống, sản xuất, kinh doanh hoặc các quyền sử dụng khác trong phạm vi pháp luật cho phép và theo thỏa thuận giữa các bên.
3. Việc khai thác giống cây trồng thông qua hợp đồng li-xăng mang lại những lợi ích gì?
Việc khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng mang lại các lợi ích như:
- Gia tăng giá trị thương mại của giống cây trồng: Chủ bằng bảo hộ có thể khai thác quyền đối với giống cây trồng thông qua việc cấp quyền sử dụng, tạo thêm nguồn thu từ phí li-xăng.
- Mở rộng phạm vi khai thác giống cây trồng: Hợp đồng li-xăng giúp đưa giống cây trồng đến nhiều tổ chức, cá nhân có nhu cầu, thúc đẩy hoạt động nhân giống, sản xuất và kinh doanh.
- Hỗ trợ bên nhận li-xăng tiếp cận nguồn giống chất lượng: Bên nhận quyền có thể sử dụng giống cây trồng được bảo hộ để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh mà không cần tự nghiên cứu, chọn tạo giống.
- Kiểm soát việc sử dụng và duy trì chất lượng giống: Các bên có thể thỏa thuận về phạm vi sử dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm liên quan nhằm bảo đảm đặc tính của giống cây trồng trong quá trình khai thác.

Theo vậy, việc khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng không chỉ giúp chủ sở hữu tối ưu hóa giá trị của quyền được bảo hộ mà còn tạo điều kiện để bên nhận quyền tiếp cận, sử dụng và phát triển các giống cây trồng có tiềm năng, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
III. Quy định của pháp luật về giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng
Việc khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng phải tuân thủ các quy định pháp luật về điều kiện chuyển quyền sử dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như phạm vi khai thác giống cây trồng.
1. Việc chuyển quyền sử dụng giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng phải đáp ứng những điều kiện nào?
Việc chuyển quyền sử dụng giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa chủ bằng bảo hộ và bên nhận quyền, trong đó các bên cần xác định rõ phạm vi, thời hạn, quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc khai thác giống cây trồng.
Bên cạnh trường hợp chuyển quyền sử dụng theo thỏa thuận, Điều 195 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi) quy định về căn cứ và điều kiện bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng. Theo đó, quyền sử dụng giống cây trồng có thể được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của chủ bằng bảo hộ hoặc người nắm độc quyền sử dụng trong các trường hợp:
- Việc sử dụng giống cây trồng nhằm mục đích công cộng, phi thương mại, phục vụ quốc phòng, an ninh, an ninh lương thực, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội;
- Người có nhu cầu và năng lực sử dụng giống cây trồng không đạt được thỏa thuận với người nắm độc quyền sử dụng dù đã cố gắng thương lượng trong thời gian hợp lý với mức giá và điều kiện thương mại thỏa đáng;
- Người nắm độc quyền sử dụng giống cây trồng bị xác định có hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định pháp luật về cạnh tranh.
Đối với trường hợp chuyển giao bắt buộc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyền sử dụng giống cây trồng phải bảo đảm các điều kiện như: không phải là quyền độc quyền; chỉ được giới hạn trong phạm vi, thời hạn cần thiết để đáp ứng mục đích chuyển giao; không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác và người được chuyển giao phải thực hiện nghĩa vụ đền bù thỏa đáng cho người nắm độc quyền sử dụng giống cây trồng theo quy định.
2. Quyền và nghĩa vụ của các bên đối với hoạt động nhân giống, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng được xác định ra sao?
Quyền và nghĩa vụ của các bên khi khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định tại Điều 193 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi) về quyền của các bên trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng. Cụ thể:
- Bên chuyển giao quyền sử dụng: Có quyền cho phép hoặc không cho phép bên nhận chuyển giao quyền sử dụng tiếp tục chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng cho bên thứ ba theo khoản 1 Điều này.
- Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng: Có quyền chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba nếu được bên giao quyền sử dụng cho phép; yêu cầu bên giao quyền sử dụng thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi khi có hành vi xâm phạm; hoặc tự áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn hành vi xâm phạm nếu bên giao quyền sử dụng không thực hiện yêu cầu trong thời hạn 03 tháng theo khoản 2 Điều 193 Luật này.
Vì vậy, trong hợp đồng li-xăng đối với giống cây trồng, các bên cần quy định cụ thể phạm vi nhân giống, sản xuất, kinh doanh, quyền chuyển giao lại và trách nhiệm bảo vệ quyền đối với giống cây trồng nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh.
3. Việc kiểm soát chất lượng và duy trì đặc tính của giống cây trồng trong quá trình thực hiện hợp đồng li-xăng được thực hiện như thế nào?
Việc kiểm soát chất lượng và duy trì đặc tính của giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng được thực hiện thông qua các thỏa thuận về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình nhân giống, sản xuất và trách nhiệm kiểm tra của các bên. Các bên có thể quy định cơ chế giám sát, kiểm tra chất lượng nhằm bảo đảm giống cây trồng được khai thác đúng phạm vi và duy trì các đặc tính đã được bảo hộ.
Trong quá trình này, việc đánh giá tính đúng giống, độ thuần và các đặc tính của giống có thể được thực hiện theo các tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan về kiểm tra giống cây trồng. Việc kiểm soát chặt chẽ giúp hạn chế tình trạng sử dụng giống không đúng tiêu chuẩn, làm thay đổi đặc tính giống hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ bằng bảo hộ.

Do đó, hợp đồng li-xăng cần quy định rõ nghĩa vụ của bên nhận quyền trong việc tuân thủ yêu cầu kỹ thuật, duy trì chất lượng giống và phối hợp với bên chuyển giao trong quá trình kiểm soát, bảo vệ giá trị của giống cây trồng.
4. Việc khai thác giống cây trồng vượt phạm vi hợp đồng li-xăng sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý gì?
Việc khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng vượt quá phạm vi được cấp phép (như nhân giống, sản xuất, kinh doanh ngoài nội dung đã thỏa thuận) có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng. Theo Điều 188 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi), hành vi khai thác, sử dụng quyền của chủ bằng bảo hộ mà không được phép của chủ bằng bảo hộ là hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng.
Khi phát hiện hành vi xâm phạm, chủ bằng bảo hộ có quyền tự bảo vệ quyền của mình theo khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019) thông qua các biện pháp:
- Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền đối với giống cây trồng;
- Yêu cầu bên vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại (nếu có);
- Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật;
- Khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Vì vậy, bên nhận li-xăng cần tuân thủ đúng phạm vi, thời hạn và mục đích sử dụng giống cây trồng theo hợp đồng để tránh phát sinh trách nhiệm pháp lý và tranh chấp với chủ bằng bảo hộ.
IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng
Các vấn đề liên quan đến giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng thường tập trung vào phạm vi sử dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên. Việc nắm rõ quy định pháp luật giúp các bên khai thác hiệu quả quyền sử dụng và hạn chế tranh chấp phát sinh.
1. Có thể cấp li-xăng độc quyền đối với giống cây trồng được bảo hộ không?
Chủ bằng bảo hộ giống cây trồng có thể cấp li-xăng độc quyền cho tổ chức, cá nhân khác để khai thác quyền sử dụng giống cây trồng trong phạm vi, thời hạn và điều kiện do các bên thỏa thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 192 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng là việc chủ bằng bảo hộ cho phép người khác thực hiện một hoặc một số hành vi thuộc quyền sử dụng đối với giống cây trồng của mình. Việc chuyển giao phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản theo khoản 3 Điều 192 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Tuy nhiên, khi cấp li-xăng độc quyền, các bên cần quy định rõ phạm vi quyền sử dụng, quyền nhân giống, sản xuất, kinh doanh và các giới hạn khai thác để tránh phát sinh tranh chấp.
2. Bên nhận li-xăng có được tiếp tục nhân giống để chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác không?
Bên nhận li-xăng không đương nhiên được quyền tiếp tục nhân giống để chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển giao lại quyền sử dụng chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của bên chuyển giao quyền sử dụng.
Căn cứ khoản 1 Điều 192 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi), chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng là việc chủ bằng bảo hộ cho phép người khác thực hiện một hoặc một số hành vi thuộc quyền sử dụng đối với giống cây trồng của mình. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 193 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi), bên chuyển giao có quyền cho phép hoặc không cho phép bên nhận chuyển giao tiếp tục chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba.
Theo đó, trong hợp đồng li-xăng đối với giống cây trồng, các bên cần quy định rõ quyền nhân giống, sản xuất, kinh doanh và quyền chuyển giao lại cho bên thứ ba để xác định phạm vi khai thác của bên nhận li-xăng và hạn chế tranh chấp phát sinh.
3. Khi giống cây trồng không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ thì hợp đồng li-xăng có bị ảnh hưởng không?
Khi giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ, quyền khai thác của các bên có thể bị ảnh hưởng do hiệu lực của bằng bảo hộ giống cây trồng bị đình chỉ hoặc hủy bỏ theo quy định pháp luật. Theo Điều 170 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được bổ sung bởi khoản 67 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), bằng bảo hộ giống cây trồng có thể bị đình chỉ hiệu lực khi giống cây trồng không còn đáp ứng điều kiện về tính đồng nhất, tính ổn định hoặc chủ bằng bảo hộ không thực hiện các nghĩa vụ duy trì hiệu lực.
Trường hợp bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực do giống cây trồng không đáp ứng điều kiện bảo hộ theo Điều 171 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (hướng dẫn bởi khoản 3 Điều 13 Nghị định 79/2023/NĐ-CP), quyền của chủ bằng bảo hộ đối với giống cây trồng có thể chấm dứt, từ đó ảnh hưởng đến cơ sở pháp lý của hợp đồng li-xăng.
Do đó, các bên nên quy định rõ trong hợp đồng li-xăng về việc xử lý khi bằng bảo hộ bị đình chỉ, hủy bỏ hoặc giống cây trồng không còn đáp ứng điều kiện bảo hộ nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh.
4. Ai chịu trách nhiệm nếu giống cây trồng không bảo đảm đúng đặc tính đã thỏa thuận?
Trường hợp giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng không bảo đảm đúng đặc tính, tiêu chuẩn hoặc chất lượng đã thỏa thuận, trách nhiệm của các bên được xác định theo nội dung hợp đồng và quy định pháp luật liên quan. Các bên cần quy định rõ nghĩa vụ cung cấp, duy trì chất lượng giống, kiểm soát quá trình nhân giống, sản xuất và kinh doanh để xác định trách nhiệm khi xảy ra vi phạm.
Theo đó, bên nhận li-xăng có trách nhiệm tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật, quy trình sử dụng và phạm vi khai thác giống cây trồng theo thỏa thuận. Trường hợp lỗi phát sinh do bên nhận li-xăng tự ý nhân giống, sản xuất hoặc khai thác không đúng quy trình thì phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả phát sinh.
Ngược lại, nếu giống cây trồng do bên chuyển giao cung cấp không đúng đặc tính, thông tin hoặc tiêu chuẩn đã cam kết trong hợp đồng, bên chuyển giao có thể phải chịu trách nhiệm theo thỏa thuận, bao gồm nghĩa vụ khắc phục, bồi thường thiệt hại nếu có. Việc đánh giá chất lượng giống có thể dựa trên các tiêu chí như tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định của giống cây trồng theo quy định về khảo nghiệm giống.
Do đó, hợp đồng li-xăng cần quy định rõ tiêu chuẩn chất lượng, nghĩa vụ kiểm soát và trách nhiệm xử lý khi giống cây trồng không bảo đảm đặc tính đã thỏa thuận nhằm hạn chế tranh chấp phát sinh.
5. Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi giao kết hợp đồng li-xăng đối với giống cây trồng?
Khi giao kết hợp đồng li-xăng đối với giống cây trồng, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau:
- Xác định rõ đối tượng và phạm vi chuyển quyền sử dụng: Cần quy định cụ thể loại giống cây trồng, quyền được khai thác như nhân giống, sản xuất, kinh doanh, thời hạn và phạm vi sử dụng.
- Quy định quyền và nghĩa vụ của các bên: Hợp đồng cần làm rõ quyền chuyển giao lại cho bên thứ ba, trách nhiệm duy trì chất lượng giống và nghĩa vụ phối hợp bảo vệ quyền đối với giống cây trồng. Theo Điều 192 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi), việc chuyển giao quyền sử dụng giống cây trồng phải được thực hiện bằng hợp đồng bằng văn bản.
- Kiểm soát chất lượng và đặc tính của giống: Các bên nên thỏa thuận về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình nhân giống, kiểm tra chất lượng nhằm bảo đảm giống cây trồng được khai thác đúng mục đích và duy trì đặc tính đã được bảo hộ.
- Lưu ý về quyền chuyển giao lại: Bên nhận li-xăng chỉ được chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba khi được bên chuyển giao cho phép theo Điều 193 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi).
Vậy, việc xây dựng hợp đồng li-xăng chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng và hạn chế rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn và soạn thảo nội dung về giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng tại NPLaw?
Việc khai thác giống cây trồng trong hợp đồng li-xăng đòi hỏi sự am hiểu về pháp luật sở hữu trí tuệ, quyền đối với giống cây trồng và các vấn đề liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng. Với đội ngũ luật sư có kinh nghiệm, NPLaw hỗ trợ doanh nghiệp tư vấn phạm vi quyền sử dụng, rà soát điều kiện pháp lý, xây dựng và hoàn thiện hợp đồng li-xăng phù hợp với nhu cầu khai thác thực tế.
Bên cạnh đó, NPLaw còn hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá rủi ro, đưa ra giải pháp kiểm soát quyền nhân giống, sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên sâu giúp doanh nghiệp hạn chế tranh chấp và khai thác hiệu quả giá trị thương mại của giống cây trồng được bảo hộ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.