Thực trạng đảng viên bán xác nhận giả là một trong những tình trạng đáng buồn đã xảy ra trong tổ chức Đảng hiện nay. Thông qua bài viết này, NPLaw xin gửi đến Quý bạn đọc một số thông tin pháp lý xoay quanh vấn đề đảng viên bán xác nhận giả, hi vọng có thể góp phần tác động lên nhận thức, hạn chế thực trạng này.
I. Thực trạng về đảng viên bán xác nhận giả
Trên thực tế, rất khó để đưa ra một con số chính xác về số lượng đảng viên bán xác nhận giả hiện nay. Bởi lẽ, tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có bất kỳ công bố thống kê chính thức về số lượng đảng viên vi phạm pháp luật cụ thể là hành vi lừa đảo bán hàng giả. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng việc đảng viên bán xác nhận giả là một thực tế tồn tại và cần khắc phục. Đảng và Nhà nước luôn có những quy định nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là đối với đảng viên.
II. Quy định pháp luật về đảng viên bán xác nhận giả
1. Đảng viên bán xác nhận giả được hiểu thế nào?
Thuật ngữ "đảng viên bán xác nhận giả" không được ghi nhận chính thức bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật hay văn bản chỉ đạo nào của Đảng. Tuy nhiên, dựa trên ngữ cảnh và những thông tin liên quan, có thể hiểu Xác nhận giả là việc có hành vi gian dối khi chứng thực tính xác thực của một thông tin, tài liệu nào đó. Đảng viên bán xác nhận giả là việc đảng viên có hành vi tạo ra và bán những giấy tờ xác nhận giả nhằm thu lợi (tiền, tài sản hoặc lợi ích khác).
2. Xử lý đảng viên bán xác nhận giả?
Căn cứ Điều 54 Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 có quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về đạo đức, nếp sống văn minh như sau:
“… 2. Trường hợp đã kỷ luật theo Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
…
b) Có hành vi xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người khác; lừa đảo, chiếm dụng tài sản, tiền của tổ chức, cá nhân.
…
3. Trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ: …”
Như vậy, Đảng viên bán xác nhận giả có thể bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo, cách chức hoặc khai trừ khỏi Đảng, hoặc có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tùy hành vi và tính chất vi phạm.

3. Thẩm quyền xử lý đảng viên bán xác nhận giả?
Căn cứ theo điểm 2.4 khoản 2 Điều 13 Quy định 22-QĐ/TW năm 2021 quy định như sau:
“2. Trình tự xem xét, quyết định kỷ luật đảng viên
2.1. Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật.
2.2. Cấp ủy hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ và biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật. Đại diện cấp ủy tham dự hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên là cấp ủy viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý.
2.3. Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau thì cấp ủy và ủy ban kiểm tra có thẩm quyền trực tiếp xem xét, quyết định kỷ luật, không cần yêu cầu đảng viên đó phải kiểm điểm trước chi bộ: Vi phạm khi thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao; nội dung vi phạm liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước mà chi bộ không biết; vi phạm trước khi chuyển đến sinh hoạt ở chi bộ.
2.4. Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời, nếu vi phạm kỷ luật thì cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật tới mức cảnh cáo. Sau khi xử lý kỷ luật phải thông báo bằng văn bản cho cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt chính thức biết.
...”
Như vậy, thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với đảng viên bán xác nhận giả là cấp ủy đảng nơi đảng viên sinh hoạt.
III. Một số thắc mắc về đảng viên bán xác nhận giả
1. Có áp dụng hình thức kỷ luật đối với đảng viên bán xác nhận giả không?
Căn cứ quy định tại Điều 54 Quy định 69-QĐ/TW năm 2022 có quy định về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm quy định về đạo đức, nếp sống văn minh như sau:
“… 2. Trường hợp đã kỷ luật theo Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
…
b) Có hành vi xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm người khác; lừa đảo, chiếm dụng tài sản, tiền của tổ chức, cá nhân.
…
3. Trường hợp vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ: …”
Như vậy, có thể áp dụng hình thức kỷ luật đối với đảng viên bán xác nhận giả, hình thức kỷ luật phụ thuộc vào mức độ vi phạm của đảng viên.
2. Thời hạn, trình tự xử lý kỷ luật đảng viên bán xác nhận giả?
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Quy định 22-QĐ/TW năm 2021, trình tự xử lý kỷ luật đảng viên bán xác nhận giả được quy định như sau:
Bước 01: Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật.
Bước 02: Cấp ủy hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị bản tự kiểm điểm. Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý và kết luận rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ và biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật. Đại diện cấp ủy tham dự hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên là cấp ủy viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý.
Bước 03: Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau thì cấp ủy và ủy ban kiểm tra có thẩm quyền trực tiếp xem xét, quyết định kỷ luật, không cần yêu cầu đảng viên đó phải kiểm điểm trước chi bộ: Vi phạm khi thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao; nội dung vi phạm liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước mà chi bộ không biết; vi phạm trước khi chuyển đến sinh hoạt ở chi bộ.
Bước 04: Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời, nếu vi phạm kỷ luật thì cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật tới mức cảnh cáo. Sau khi xử lý kỷ luật phải thông báo bằng văn bản cho cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt chính thức biết.
- Tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền khi phát hiện cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý có vi phạm phải chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là chi bộ xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền. Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xem xét, xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên xem xét, xử lý kỷ luật; đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng cấp dưới và người đứng đầu tổ chức đảng đó.
Thời hạn xử lý kỷ luật đảng viên bán xác nhận giả được quy định tại Điều 4
“1. Thời hiệu kỷ luật là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì tổ chức đảng, đảng viên vi phạm không bị kỷ luật.
2. Thời hiệu kỷ luật được tính từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm đến khi tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật. Nếu tổ chức đảng hoặc đảng viên có hành vi vi phạm mới trong thời hạn được quy định tại Điểm a, b Khoản này thì thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm mới.
…
b) Thời hiệu kỷ luật đảng viên vi phạm như sau:
- 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách.
- 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
- Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm quốc phòng, an ninh, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp”.
Như vậy, thời hạn và trình tự xử lý kỷ luật đảng viên bán xác nhận giả được thực hiện như quy định nêu trên.

3. Đảng viên bán xác nhận giả có chịu trách nhiệm hình sự không?
Như đã trình bày ở trên, việc bán xác nhận giả là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tiền, tài sản của người khác. Tùy vào mức độ hành vi mà việc bán xác nhận giả có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:
“. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ…”
Như vậy, trong trường hợp hành vi đảng viên bán xác nhận giả phù hợp với cấu thành tội phạm như nêu trên thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến đảng viên bán xác nhận giả
Hiểu được nhu cầu tìm hiểu quy định về đảng viên bán xác nhận giả của Quý Khách hàng, Công ty Luật TNHH Ngọc Phú sẽ hỗ trợ, tư vấn cho Quý Khách hàng các vấn đề về đảng viên bán xác nhận giả. Quý độc giả có thể liên hệ ngay tới NPLaw để được các luật sư dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, thủ tục pháp lý của NPLaw tư vấn tận tình và nhanh chóng với thông tin liên hệ dưới đây: