I. Thực trạng về sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Hiện nay, tội phạm sử dụng mạng máy tính và Internet để chiếm đoạt tài sản đang ngày càng gia tăng. Các hình thức phổ biến bao gồm lừa đảo trực tuyến qua email, mạng xã hội, và các sàn thương mại điện tử. Tội phạm cũng lợi dụng các lỗ hổng bảo mật trong hệ thống ngân hàng và các dịch vụ trực tuyến để đánh cắp thông tin tài khoản và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. 

Nguyên nhân chủ yếu là do người dùng thiếu kiến thức về an ninh mạng, và các quy định pháp lý vẫn còn chưa hoàn thiện. Để ngăn chặn, cần tăng cường nhận thức về bảo mật, hợp tác quốc tế và cải thiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

II. Quy định pháp luật về sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1. Thế nào là sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản?
Hành vi sử dụng mạng máy tính, Internet để chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là việc lợi dụng các thiết bị, công nghệ thông tin để tiếp cận trái phép và chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể, tội phạm này bao gồm hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản, sử dụng thông tin của thẻ ngân hàng hoặc thông tin cá nhân để thực hiện chuyển tiền, thanh toán trái phép…

2. Hình thức sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản?

Sử dụng máy tính, phần mềm và các thiết bị điện tử kết nối Internet. Các đối tượng phạm tội thường có kiến thức chuyên môn về công nghệ thông tin và hiểu biết nhất định về lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Dẫn chứng một số quy định, như khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được áp dụng đối với các hành vi “lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử…”, cùng với Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng các quy định về tội phạm công nghệ thông tin. Thời gian, không gian Phạm tội trên không gian mạng không bị giới hạn về mặt địa lý; tội phạm có thể thực hiện hành vi từ bất cứ đâu, bất kỳ lúc nào. Thủ đoạn Sử dụng các chiêu thức tinh vi như lừa đảo qua email, tin nhắn, giả mạo cơ quan chức năng, sản xuất và lưu hành thẻ ngân hàng giả.

3. Biện pháp xử lý hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản?

Căn cứ Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản của người khác, thì tùy theo mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trách nhiệm hình sự:
Người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội theo Điều 290 BLHS.

  • Hình phạt chính có thể là:
    • Cải tạo không giam giữ đến 03 năm
    • Phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm, tùy theo giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất phạm tội.

Hình phạt bổ sung (khoản 5 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017):

  • Có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng,
  • Cấm hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ,
  • Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trách nhiệm dân sự:

  • Ngoài hình phạt hình sự, người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân theo quy định tại Điều 584 - 589 Bộ luật Dân sự 2015.

Trách nhiệm hành chính:

  • Nếu chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP, mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng, tùy hành vi cụ thể (giả mạo thông tin, phát tán mã độc, xâm nhập trái phép...).

III. Giải đáp một số câu hỏi về sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1. Hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật?

Theo Điều 290 Bộ luật Hình sự, hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội, bị xử lý hình sự. Các hình thức xử lý gồm:

  • Truy tố trách nhiệm hình sự nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm;
  • Trường hợp chưa đủ dấu hiệu hình sự thì xử lý hành chính;
  • Có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm hành nghề, tịch thu tài sản...

 Ví dụ thực tế: Người truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng của người khác để rút tiền hoặc chuyển tiền sang tài khoản cá nhân sẽ bị khởi tố về hành vi chiếm đoạt tài sản bằng phương tiện điện tử.

2. Mức phạt đối với cá nhân sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là bao nhiêu?

Theo Điều 290 BLHS, hình phạt được chia thành 4 khung, tương ứng với mức độ nghiêm trọng và giá trị tài sản bị chiếm đoạt:

- Dấu hiệu định khung hình phạt cơ bản  bao gồm các dấu hiệu định tội thuộc cấu thành tội phạm, xác định có hành vi sử dụng mạng viễn thông, mạng máy tính, phương tiện điện tử nhằm để chiếm đoạt tài sản, khung hình phạt tương ứng ở cấu thành cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất  có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, khung phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng nặng sau đây:  

+ Có tổ chức; 

+ Phạm tội từ 02 lần trở lên; 

+ Có tính chất chuyên nghiệp;  

+ Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ; 

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;  + Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; 

+ Tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt tăng nặng thứ hai  có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, khung phạt này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng nặng sau đây: 

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;  

+ Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; 

+ Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.

- Khung hình phạt tăng nặng thứ ba  có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, khung này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khung tăng nặng như sau: 

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; 

+ Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên; 

+ Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.

- Ngoài ra, bên cạnh các hình phạt chính, người phạm tội có thể phải chịu thêm hình phạt bổ sung là bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3. Những yếu tố nào cấu thành tội phạm khi sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản?

Căn cứ Điều 290 BLHS 2015; Điều 10 Thông tư liên tịch 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC, những yếu tố nào cấu thành tội phạm khi sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là:

Khách thể:

  • Quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm.
  • Đồng thời, xâm phạm trật tự an toàn công cộng và hoạt động của hệ thống thông tin.

Mặt khách quan:

  • Hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản như:
    • Truy cập trái phép vào tài khoản ngân hàng
    • Lừa đảo qua các nền tảng thương mại điện tử
    • Sản xuất, sử dụng thẻ ngân hàng giả
    • Giả mạo website, app ngân hàng để thu thập OTP

Mặt chủ quan:

  • Lỗi cố ý
  • Mục đích chiếm đoạt tài sản rõ ràng

Chủ thể:

  • Người từ đủ 16 tuổi trở lên, hoặc từ 14 tuổi nếu phạm tội nghiêm trọng (trên 200.000.000 đồng).
  • Có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về việc sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Để đảm bảo khi thực hiện sử dụng mạng máy tính, mạng Internet thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được thực hiện đúng pháp luật và tránh rủi ro phát sinh, việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ các dịch vụ tư vấn pháp lý là điều cần thiết. NPLAW cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, từ soạn thảo hợp đồng, giải đáp các thắc mắc về quy định pháp lý đến hỗ trợ trong quá trình thực hiện thủ tục. Sự hỗ trợ toàn diện này sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian và đảm bảo giao dịch thành công.