Sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý đối với cá nhân, doanh nghiệp trong lĩnh vực dược phẩm. Bài viết phân tích các quy định pháp luật hiện hành, chế tài xử lý, trách nhiệm pháp lý liên quan và những vấn đề thực tiễn cần lưu ý để phòng ngừa vi phạm.

I. Thực trạng sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng trong giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, tình trạng sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng vẫn là vấn đề đáng lo ngại. Nhiều vụ việc bị phát hiện cho thấy các đối tượng vi phạm ngày càng sử dụng thủ đoạn tinh vi nhằm đưa sản phẩm không đạt tiêu chuẩn ra thị trường.

Thuốc giả hoặc kém chất lượng có thể không chứa đủ hoạt chất, chứa thành phần không đúng công bố hoặc được sản xuất từ nguyên liệu không bảo đảm chất lượng. Điều này làm giảm hiệu quả điều trị và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người sử dụng.

Mặc dù cơ quan chức năng đã tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm, nhưng nguy cơ phát sinh các hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng vẫn còn hiện hữu, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý và ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.

II. Tìm hiểu về sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng

Trước khi xem xét các quy định pháp luật cụ thể, cần hiểu rõ khái niệm, đặc điểm và các yếu tố pháp lý cơ bản liên quan đến hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng.

1. Thế nào là hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng dưới góc độ pháp lý hiện hành?

Theo khoản 33 Điều 2 Luật Dược 2016 được bổ sung bởi điểm e khoản 1 Điều 1 Luật Dược sửa đổi 2024, thuốc giả là thuốc được sản xuất thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Không có dược chất, dược liệu;
  • Có dược chất không đúng với dược chất ghi trên nhãn hoặc theo tiêu chuẩn đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu;
  • Có dược chất, dược liệu nhưng không đúng hàm lượng, nồng độ hoặc khối lượng đã đăng ký lưu hành hoặc ghi trong giấy phép nhập khẩu, trừ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định tại khoản 32 Điều này trong quá trình bảo quản, lưu thông phân phối;
  • Được sản xuất, trình bày hoặc dán nhãn nhằm mạo danh nhà sản xuất, nước sản xuất hoặc nước xuất xứ.

Thuốc kém chất lượng là thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký hoặc tiêu chuẩn chất lượng theo quy định có thể bị xác định là thuốc kém chất lượng. Từ các điều trên có thể hiểu, hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là việc tổ chức, cá nhân sản xuất ra các loại thuốc không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc hoặc thuộc các trường hợp thuốc giả theo Luật Dược.

Đây là hành vi xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực dược và tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng.

2. Ai phải chịu trách nhiệm khi xảy ra sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng trong dây chuyền sản xuất?

Người trực tiếp sản xuất, tổ chức hoặc chỉ đạo việc sản xuất thuốc giả có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý về hình sự nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh theo Điều 194 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Ngoài ra, theo Điều 75 Bộ Luật này quy định, pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi vi phạm được thực hiện nhân danh và vì lợi ích của pháp nhân.

Như vậy, khi xảy ra sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, trách nhiệm có thể thuộc về người trực tiếp thực hiện, người quản lý có liên quan và cả doanh nghiệp, tùy thuộc vào vai trò, mức độ tham gia và lỗi của từng chủ thể.

3. Hành vi cố ý và vô ý trong tội sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng được luật pháp phân định dựa trên những đặc điểm nhận dạng nào?

Theo quy định tại BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 quy định:

  • Cố ý phạm tội (Điều 10) là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
  • Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
  • Vô ý phạm tội (Điều 11) là phạm tội trong những trường hợp sau đây: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
  • Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Chẳng hạn trường hợp, người sản xuất biết thuốc không đủ hoạt chất hoặc sử dụng nguyên liệu không đạt chuẩn nhưng vẫn đưa sản phẩm ra thị trường là cố ý phạm tội. Trường hợp người quản lý chất lượng không thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra dẫn đến thuốc kém chất lượng được lưu hành dù không mong muốn hậu quả xảy ra, là hành vi vô ý phạm tội.

Dấu hiệu cốt lõi để phân biệt hành vi cố ý và vô ý trong sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là mức độ nhận thức và ý chí của người thực hiện đối với hành vi vi phạm và hậu quả do hành vi đó gây ra.

4. Vai trò của việc giám sát hàm lượng dược chất trong tiêu chuẩn cơ sở đối với việc chứng minh doanh nghiệp không sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là gì?

Theo Điều 5 Thông tư 30/2025/TT-BYT, tiêu chuẩn cơ sở về thuốc, nguyên liệu làm thuốc phải đáp ứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 102 của Luật Dược 2016, cụ thể như sau:

  • Đáp ứng yêu cầu về chỉ tiêu chất lượng, mức chất lượng được quy định tại chuyên luận tương ứng của Dược điển Việt Nam hoặc dược điển tham chiếu và chỉ tiêu chất lượng, mức chất lượng, phương pháp kiểm nghiệm chung được quy định tại các Phụ lục của Dược điển Việt Nam hoặc dược điển tham chiếu;
  • Trường hợp Dược điển Việt Nam, dược điển tham chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư này chưa có chuyên luận thuốc, nguyên liệu làm thuốc tương ứng, cơ sở xây dựng tiêu chuẩn trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học (bao gồm cả kết quả nghiên cứu phát triển sản phẩm) hoặc theo quy định của dược điển nước ngoài khác.

Việc giám sát hàm lượng dược chất giúp doanh nghiệp chứng minh rằng thuốc được sản xuất đúng công thức, đúng thành phần hoạt chất và đạt mức chất lượng đã đăng ký hoặc công bố. Nếu hồ sơ kiểm nghiệm cho thấy hàm lượng dược chất của từng lô thuốc luôn nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn cơ sở và được kiểm soát bằng quy trình kiểm nghiệm hợp lệ, đây là căn cứ quan trọng để chứng minh doanh nghiệp đã tuân thủ yêu cầu về chất lượng thuốc. Ngược lại, việc không kiểm soát hoặc để hàm lượng hoạt chất không đạt tiêu chuẩn có thể là dấu hiệu cho thấy thuốc kém chất lượng.

Việc giám sát hàm lượng dược chất theo tiêu chuẩn cơ sở không chỉ bảo đảm chất lượng thuốc mà còn là chứng cứ kỹ thuật quan trọng để chứng minh doanh nghiệp không sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng

Liên quan đến hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, pháp luật hiện hành quy định cụ thể về chế tài xử lý, điều kiện hoạt động hợp pháp của cơ sở sản xuất và các biện pháp xử lý đối với thuốc vi phạm.

1. Luật hiện hành quy định chế tài như thế nào đối với hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng?

Đối với hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả sẽ phải chịu các chế tài hình sự theo quy định tại Điều 194 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025. Người phạm tội có thể chịu mức phạt tù cao nhất là chung thân, bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Pháp nhân thương mại phạm tội có thể bị phạt tiền cao nhất đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

Hành vi sản xuất thuốc kém chất lượng có thể bị xử phạt hành chính. Điểm b khoản 6 Điều 57 Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định, hành vi sản xuất thuốc từ nguyên liệu làm thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng hoặc nguyên liệu làm thuốc đã có thông báo thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nguyên liệu làm thuốc không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc nguyên liệu làm thuốc đã hết hạn dùng, sẽ bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Ngoài bị phạt tiền còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược từ 03 tháng đến 06 tháng, buộc tiêu hủy toàn bộ số thuốc và nguyên liệu làm thuốc.

Pháp luật hiện hành áp dụng chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.

2. Điều kiện để một cơ sở sản xuất dược phẩm được chứng minh là vận hành đúng luật và không vi phạm lỗi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng gồm những gì?

Một cơ sở sản xuất dược phẩm, để chứng minh là vận hành đúng pháp luật và không vi phạm hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, cơ sở sản xuất dược phẩm phải đáp ứng đồng thời một vài điều kiện nhất định như:

  • Người phụ trách về bảo đảm chất lượng của cơ sở sản xuất dược phẩm phải có chứng chỉ hành nghề dược (khoản 2 Điều 11 Luật Dược 2016);
  • Cơ sở sản xuất thuốc phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, đáp ứng điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với phạm vi hoạt động;
  • Cơ sở sản xuất thuốc phải tuân thủ nguyên tắc, quy định tại khoản 1 Điều 102 Luật Dược 2016. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc bao gồm quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc và phương pháp kiểm nghiệm chung được quy định trong Dược điển Việt Nam. Việc áp dụng phương pháp kiểm nghiệm trong từng chuyên luận của thuốc, nguyên liệu làm thuốc, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc được ghi trong Dược điển Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện áp dụng;
  • Cơ sở phải duy trì hệ thống hồ sơ lô sản xuất, hồ sơ kiểm nghiệm, quy trình thao tác chuẩn (SOP), hệ thống truy xuất nguồn gốc và cơ chế xử lý khi phát hiện thuốc không đạt chất lượng (Điều 3 và Điều 4 Thông tư 28/2025/TT-BYT).

Một cơ sở sản xuất dược phẩm được xem là hoạt động đúng luật khi có đầy đủ giấy phép theo quy định, tuân thủ tiêu chuẩn GMP, sử dụng nguyên liệu hợp pháp, thực hiện kiểm soát chất lượng chặt chẽ và chứng minh được toàn bộ quá trình sản xuất thông qua hồ sơ, tài liệu và kết quả kiểm nghiệm hợp lệ.

3. Trình tự thủ tục niêm phong, thu hồi và tiêu hủy tang vật đối với các lô hàng thuộc diện sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng diễn ra như thế nào?

Đối với các lô hàng thuộc diện sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, trình tự niêm phong, thu hồi và tiêu hủy tang vật sẽ khác nhau tùy thuộc vụ việc bị xử lý theo thủ tục hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với xử lý hành chính, trình tự được thực hiện theo:

  • Phát hiện vi phạm và lập biên bản;
  • Tạm giữ, niêm phong tang vật theo Điều 125, Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020 (sau đây gọi tắt là Luật XLVPHC 2012 sửa đổi bổ sung 2020);
  • Lấy mẫu kiểm nghiệm, xác định thuốc giả hoặc thuốc không đạt chất lượng;
  • Ban hành quyết định xử phạt và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, trong đó có biện pháp buộc thu hồi, tiêu hủy thuốc vi phạm theo Điều 33 Luật XLVPHC 2012 sửa đổi bổ sung 2020 và khoản 9 Điều 57 Nghị định 90/2026/NĐ-CP;
  • Tổ chức tiêu hủy và lập biên bản tiêu hủy theo quy định.

Đối với xử lý hình sự, trình tự thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025 (sau đây gọi tắt là BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung 2025) gồm:

  • Thu giữ, niêm phong vật chứng (Điều 89 và Điều 106);
  • Trưng cầu giám định chất lượng thuốc (Điều 205);
  • Khởi tố vụ án, khởi tố bị can nếu có căn cứ về tội sản xuất thuốc giả theo Điều 194 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025;
  • Tòa án quyết định xử lý vật chứng, trong đó thuốc giả và nguyên liệu dùng để sản xuất thuốc giả thường bị tịch thu, tiêu hủy (khoản 2 Điều 106);
  • Cơ quan thi hành án tổ chức tiêu hủy theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Nhìn chung, mọi lô thuốc giả hoặc kém chất lượng đều phải được xử lý theo trình tự luật định và chịu các biện pháp khắc phục phù hợp với tính chất vi phạm.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng

Trong thực tiễn, sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng đặt ra nhiều vấn đề thắc mắc cần được làm rõ.

1. Quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân tổ chức thực hiện hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là bao lâu?

Căn cứ vào quy định tại Điều 9 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 tùy vào mức độ phạm tội thuộc khoản nào của Điều 194 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh cụ thể nếu thuộc:

  • Khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng;
  • Khoản 2 là tội phạm rất nghiêm trọng;
  • Khoản 3, 4 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả được xác định theo tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm và có thể kéo dài đến 20 năm đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

2. Người tiêu dùng làm sao để khiếu nại và đòi bồi thường khi mua phải sản phẩm từ các cơ sở sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng?

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 người tiêu dùng có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Người tiêu dùng khi mua phải thuốc giả hoặc kém chất lượng có thể thu thập các chứng cứ như hóa đơn, bao bì, đơn thuốc, hồ sơ điều trị và gửi khiếu nại đến cơ sở sản xuất, kinh doanh để yêu cầu bồi thường. Nếu không được giải quyết thỏa đáng, người tiêu dùng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp hoặc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Người tiêu dùng có quyền khiếu nại và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi chứng minh được việc sử dụng thuốc giả hoặc kém chất lượng đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

3. Các biện pháp tạm thời như đình chỉ hoặc phong tỏa có thể áp dụng khi phát hiện sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là gì?

Khi phát hiện hành vi sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng một số biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm như tạm giữ, niêm phong thuốc, nguyên liệu làm thuốc và phương tiện vi phạm theo Điều 125, Điều 126 Luật XLVPHC 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản hoặc thu giữ vật chứng theo các Điều 128, 129 và 133 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung 2025 để phục vụ điều tra và bảo đảm thi hành án.

Khi phát hiện hành vi sản xuất thuốc giả hoặc kém chất lượng, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tạm thời như niêm phong, tạm giữ, đình chỉ hoạt động liên quan, kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài khoản nhằm ngăn chặn hậu quả và phục vụ quá trình xử lý vụ việc.

4. Khi phát hiện sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, những chứng cứ ban đầu nào quan trọng nhất để khởi tố hoặc yêu cầu tạm dừng lưu hành?

Theo Điều 86 BLTTHS 2015 sửa đổi bổ sung 2025, chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định và được dùng để xác định có hay không hành vi phạm tội. Tại khoản 1 Điều 87 Bộ luật này, quy định chứng cứ có thể từ nguồn là vật chứng, lời khai, lời trình bày, dữ liệu điện tử, kết luận giám định, định giá tài sản, biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án…

Cho nên, khi phát hiện sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, các chứng cứ ban đầu quan trọng nhất thường bao gồm mẫu thuốc nghi vấn, kết quả kiểm nghiệm chất lượng, hồ sơ sản xuất, chứng từ về nguyên liệu, nhãn mác, bao bì, cùng lời khai của người liên quan hoặc tài liệu phản ánh tác hại của thuốc đối với người sử dụng. Các chứng cứ trên phải được cơ quan có thẩm quyền thu thập đúng theo trình tự quy định

Kết quả kiểm nghiệm chất lượng thuốc kết hợp với mẫu vật, hồ sơ sản xuất và các tài liệu liên quan là những chứng cứ ban đầu quan trọng nhất để xem xét khởi tố hoặc yêu cầu tạm dừng lưu hành thuốc nghi là giả hoặc kém chất lượng.

5. Trong giao dịch quốc tế, hợp đồng xuất nhập khẩu có thể quy định điều gì để xử lý rủi ro sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng?

Trong giao dịch quốc tế, hợp đồng xuất nhập khẩu thuốc có thể quy định các điều khoản về tiêu chuẩn chất lượng, nguồn gốc nguyên liệu, chứng nhận GMP, quyền kiểm tra và giám định hàng hóa, trách nhiệm thu hồi sản phẩm, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng, chấm dứt hợp đồng và cơ chế giải quyết tranh chấp nếu phát hiện thuốc giả hoặc thuốc kém chất lượng. Các bên cũng có thể thỏa thuận về nghĩa vụ cung cấp hồ sơ kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng và trách nhiệm của nhà sản xuất khi sản phẩm không đáp ứng tiêu chuẩn đã cam kết.

Việc quy định rõ trách nhiệm về chất lượng, kiểm tra, thu hồi và bồi thường trong hợp đồng xuất nhập khẩu là biện pháp quan trọng để hạn chế và xử lý rủi ro liên quan đến thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng.

V. Doanh nghiệp của bạn đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng pháp lý hoặc bị thanh tra về nghi vấn sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, tại sao chưa liên hệ ngay với NPLaw để được luật sư chuyên môn bảo vệ quyền lợi hợp pháp?

Khi đối mặt với nguy cơ bị thanh tra, điều tra hoặc phát sinh tranh chấp liên quan đến sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng, việc có luật sư đồng hành ngay từ đầu là yếu tố quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. NPLaw với đội ngũ luật sư am hiểu lĩnh vực dược phẩm, hình sự và tuân thủ doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ rà soát hồ sơ, đánh giá rủi ro pháp lý và xây dựng phương án bảo vệ phù hợp cho từng vụ việc.

Sản xuất thuốc chữa bệnh giả hoặc kém chất lượng là hành vi bị pháp luật xử lý đặc biệt nghiêm khắc do ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân và trật tự quản lý dược. Việc nắm vững các quy định về nhận diện hành vi vi phạm, trách nhiệm pháp lý, điều kiện sản xuất hợp pháp và cơ chế xử lý rủi ro không chỉ giúp doanh nghiệp bảo đảm tuân thủ pháp luật mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh dược phẩm an toàn, minh bạch và bền vững.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.