Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại phát triển mạnh mẽ cả trong nước và xuyên biên giới, thì các hành vi gian lận thương mại cũng ngày càng tinh vi và phức tạp hơn. Mời bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây của NPLaw để tìm hiểu quy định về điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại hiện nay.

I. Thực trạng liên quan đến điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại

Hiện nay, các hành vi gian lận thương mại diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, thương mại điện tử và phân phối hàng hóa. Dù cơ quan chức năng đã tăng cường kiểm tra, xử lý, nhưng việc phát hiện và chứng minh hành vi gian lận vẫn còn gặp nhiều trở ngại do tính chất ẩn danh, đa tầng và xuyên biên giới của các hành vi vi phạm. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về cơ chế điều tra minh bạch, phối hợp liên ngành hiệu quả và quy định pháp lý đồng bộ.

II. Quy định của pháp luật liên quan đến điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại

1. Điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại là gì?

Điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các hoạt động thu thập thông tin, xác minh, phân tích chứng cứ, xác định hành vi vi phạm và chủ thể vi phạm, đồng thời áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi gian lận trong hoạt động thương mại. Việc giải quyết bao gồm việc áp dụng các biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự phù hợp với mức độ vi phạm.

2. Hành vi gian lận thương mại được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào?

Hiện nay, pháp luật Việt Nam không có định nghĩa thế nào là “gian lận thương mại”. Hành vi này được quy định cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau tùy thuộc vào bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi. Một số nhóm hành vi gian lận thương mại phổ biến hiện nay như sau:

  • Gian lận thương mại trong lưu thông, kinh doanh thực phẩm.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực thuế, phí và lệ phí.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực quản lý giá.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực kế toán.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
  • Gian lận thương mại trong lĩnh vực in, phát hành, quản lý, sử dụng hóa đơn.

Phạm vi của “gian lận thương mại” rất rộng và phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu chuyên sâu về nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau để có thể nhận diện và xử lý chính xác.

3. Quy trình điều tra một vụ việc gian lận thương mại theo quy định pháp luật hiện hành ra sao?

Đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm hành chính theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2025:

  • Lập biên bản vi phạm hành chính.
  • Xác minh tình tiết của vụ việc, giá trị tang vật.
  • Cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện giải trình.
  • Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự (nếu có). 
  • Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xác định có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.

Đối với vụ việc có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025:

  • Tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và tiến hành điều tra, xác minh vụ án.
  • Khởi tố vụ án hình sự.
  • Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án hình sự.
  • Sau khi có kết luận điều tra, Viện kiểm sát tiến hành truy tố vụ án.
  • Tòa án tiến hành xét xử sau khi nhận được cáo trạng của Viện kiểm sát.
  • Cơ quan thi hành án thi hành bản án có hiệu lực của Tòa án.

4. Các chế tài xử phạt đối với hành vi gian lận thương mại bao gồm những hình thức nào?

Các hành vi gian lận thương mại tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều hình thức chế tài xử phạt nghiêm khắc, tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi và quy định của pháp luật, bao gồm:

  • Xử lý hành chính: Đây là hình thức xử lý phổ biến nhất đối với các hành vi gian lận thương mại chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Xử lý hình sự: áp dụng đối với các hành vi gian lận thương mại có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Phổ biến là hành vi liên quan đến các tội như sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192, 193, 194, 195); in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203), vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317) ...

Bồi thường thiệt hại: cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi gian lận thương mại có quyền yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại theo Điều 594 Bộ luật Dân sự 2015.

III. Giải đáp các thắc mắc liên quan đến điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại

1. Cơ quan nào thực hiện điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại?

Về xử lý hành chính, thẩm quyền điều tra, giải quyết các hành vi vi phạm theo Điều 37a Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, sửa đổi, bổ sung 2025 gồm:

  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.
  • Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực; Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan ngang Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;
  • Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;
  • Thanh tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong thời hạn thanh tra;
  • Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
  • Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu; Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
  • Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra;
  • Người có thẩm quyền thuộc các cơ quan, lực lượng: Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Thuế; Quản lý thị trường; Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Thủy sản và Kiểm ngư; Thi hành án dân sự;
  • Giám đốc, Trưởng đại diện Cảng vụ Hàng hải, Cảng vụ Đường thủy nội địa, Cảng vụ Hàng không; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám đốc Kho bạc Nhà nước khu vực;
  • Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia; Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;
  • Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trừ trường hợp Luật Cạnh tranh có quy định khác về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh;
  • Người có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân;
  • Người có thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát nhân dân;
  • Trưởng đoàn kiểm toán trong thời hạn kiểm toán, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước.

Về xử lý hình sự, thẩm quyền điều tra theo khoản 1, 2 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025 như sau:

  • Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

2. Có những trường hợp nào bị đình chỉ hoặc hủy bỏ việc điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại không?

a. Trong xử lý hành chính: 

Hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp theo khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định 68/2025/NĐ-CP) như sau:

  • Quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính; 
  • Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính được ban hành không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;
  • Vi phạm thủ tục trong xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến vi phạm quy định tại các điểm c, d, e, g và h khoản này;
  • Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng hoặc xác định hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp không có vi phạm hành chính xảy ra;
  • Áp dụng hình thức xử phạt không đúng đối với hành vi vi phạm hành chính;
  • Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.

b. Trong xử lý hình sự:

Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025 quy định cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự. 
  • Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

Khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025  quy định: “Khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết”.

Theo đó, Điều 157 quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự gồm:

  • Không có sự việc phạm tội;
  • Hành vi không cấu thành tội phạm;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
  • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
  • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Tội phạm đã được đại xá;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
  • Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

Việc đình chỉ hoặc hủy bỏ cần được thực hiện theo đúng thủ tục, trình tự pháp luật, đảm bảo tính công bằng và tránh bỏ lọt tội phạm hoặc oan sai.

3. Những khó khăn thường gặp trong quá trình điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại là gì?

Trong quá trình điều tra và xử lý hành vi gian lận thương mại, cơ quan chức năng thường gặp phải nhiều trở ngại đáng kể.

  • Còn thiếu đồng bộ và phối hợp hiệu quả giữa các đơn vị chức năng, đặc biệt trong các vụ việc có liên quan đến nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài.
  • Đối tượng vi phạm thường có thủ đoạn tinh vi, thay đổi liên tục hình thức và phương thức gian lận để tránh bị phát hiện. 
  • Khó khăn trong hợp tác quốc tế, truy vết, thu thập chứng cứ và xác minh thông tin các hành vi gian lận xuyên biên giới.

Những yếu tố này khiến quá trình điều tra kéo dài, giảm hiệu quả xử lý và làm suy giảm niềm tin của doanh nghiệp chân chính vào cơ chế bảo vệ pháp luật.

4. Có cơ chế nào để giám sát việc điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại không?

Việc giám sát quá trình điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại được pháp luật Việt Nam quy định thông qua nhiều cơ chế khác nhau nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và đúng pháp luật. Chẳng hạn như:

  • Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật theo Điều 20 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025. 
  • Hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo Luật Thanh tra 2025.
  • Người dân và doanh nghiệp có quyền khiếu nại và tố cáo nếu phát hiện có sai phạm hoặc dấu hiệu gian lận thương mại theo quy định tại Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố cáo 2018.

Ngoài ra, nội bộ các cơ quan đều có các bộ phận, quy chế để kiểm tra, giám sát hoạt động của cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình; cơ quan quản lý cấp trên có quyền kiểm tra, chỉ đạo đối với hoạt động của cơ quan cấp dưới, nhằm phòng ngừa tiêu cực, sai phạm.

5. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tính khách quan trong quá trình điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại?

Một số yếu tố có thể làm ảnh hưởng đến tính khách quan trong quá trình điều tra, giải quyết như sau:

  • Sự minh bạch trong quy trình điều tra: Nếu quy trình không rõ ràng, không công khai các bước thực hiện và căn cứ xử lý, dễ dẫn đến nghi ngờ về việc thiên vị hoặc bỏ lọt vi phạm.
  • Tính độc lập của cơ quan điều tra: Khi các cơ quan này chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, đặc biệt là từ doanh nghiệp có tiềm lực tài chính hoặc mối quan hệ phức tạp, thì việc điều tra sẽ khó đảm bảo tính vô tư, trung lập.
  • Năng lực, trình độ chuyên môn: Cán bộ điều tra nếu không nắm vững pháp luật, thiếu kinh nghiệm thực tiễn hoặc không có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực kinh tế, thương mại, công nghệ sẽ khó có thể đánh giá đúng bản chất hành vi, thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác.
  • Áp lực từ dư luận xã hội: Trong một số vụ việc gây chú ý lớn, áp lực từ dư luận xã hội có thể ảnh hưởng đến tâm lý người tiến hành tố tụng, dẫn đến các quyết định chưa thực sự khách quan hoặc vội vàng.

Như vậy, chỉ khi các yếu tố trên được đảm bảo đồng thời thì tính khách quan của quá trình điều tra và xử lý mới có thể đạt được.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại

Trên đây là bài viết của NPLaw về điều tra và giải quyết các hành vi gian lận thương mại hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.