Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, việc đăng ký bảo hộ thương hiệu cho phần mềm ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, không ít trường hợp cá nhân hoặc tổ chức lấy thương hiệu của bên khác để đăng ký cho phần mềm với mục đích chiếm đoạt uy tín, gây nhầm lẫn hoặc trục lợi thương mại. Vậy pháp luật quy định như thế nào trong trường hợp này? Mời bạn đọc cùng theo dõi trong bài viết dưới đây của NPLaw.
I. Thực trạng liên quan đến lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp phát triển phần mềm gặp khó khăn khi phát hiện thương hiệu của mình bị người khác đăng ký trước. Việc đi tắt bằng cách lấy tên, logo hoặc dấu hiệu nhận diện của doanh nghiệp khác để đăng ký bảo hộ không chỉ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ mà còn ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động kinh doanh và khả năng khai thác thương mại của thương hiệu thật sự. Tình trạng này thường xảy ra trong lĩnh vực phần mềm ứng dụng, game trực tuyến, hoặc nền tảng thương mại điện tử – nơi thương hiệu có giá trị lớn và dễ bị sao chép.
II. Khái niệm về lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm
Việc hiểu đúng bản chất của hành vi này giúp doanh nghiệp nhận diện sớm và có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
1. Lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm là gì?
Lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có thể hiểu là hành vi cá nhân hoặc tổ chức sử dụng tên, biểu tượng, logo, hoặc dấu hiệu tương tự thương hiệu của doanh nghiệp khác để đăng ký bảo hộ cho phần mềm của mình mà không được sự cho phép. Hành vi này có thể bị xem là đăng ký trái với nguyên tắc trung thực, gây nhầm lẫn hoặc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của chủ thể khác.
2. Trong thực tế, những loại phần mềm nào dễ bị người khác lấy thương hiệu để đăng ký nhất?
Trong thực tế, các phần mềm phổ biến, có lượng người dùng lớn hoặc đang trong quá trình mở rộng thương hiệu là đối tượng dễ bị người khác lợi dụng để đăng ký nhất, ví dụ như phần mềm kế toán, ứng dụng gọi xe, game, phần mềm giáo dục trực tuyến, thương mại điện tử.

Những phần mềm này thường có tên thương hiệu dễ nhận diện, giá trị thương mại cao, dẫn đến rủi ro bị sao chép nhãn hiệu để cạnh tranh không lành mạnh. Đặc biệt, khi doanh nghiệp chưa kịp đăng ký bảo hộ, nguy cơ bị đăng ký trước thương hiệu là rất cao.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm
Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam có những quy định chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp và ngăn chặn hành vi đăng ký thương hiệu không trung thực.
1. Pháp luật Việt Nam hiện hành có cho phép lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm không?
Theo khoản 1, 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, hành vi sau đây được coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại:
- Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:
- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
- Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;
- Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
- Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

Như vậy, việc cố ý lấy thương hiệu của bên khác để đăng ký mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu được xem là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
2. Pháp luật quy định thế nào về việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nếu chứng minh được thương hiệu được đăng ký trái phép cho phần mềm?
Theo điểm a khoản 1 Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong trường hợp: “Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu”.
Ngoài ra, điểm a, b khoản 2 Điều này quy định văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực nếu toàn bộ hoặc một phần văn bằng bảo hộ đó không đáp ứng quy định của Luật này về quyền đăng ký, điều kiện bảo hộ, sửa đổi, bổ sung đơn, bộc lộ sáng chế, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong trường hợp:
- Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được người có quyền đăng ký chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu.
- Đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 8 và Chương VII của Luật này.
Như vậy, nếu chứng minh được thương hiệu được đăng ký trái phép cho phần mềm thì có thể yêu cầu hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần hiệu lực văn bằng bảo hộ được cấp được cấp cho phần mềm đó.
IV. Giải đáp các thắc mắc về lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm
Dưới đây là giải đáp một số câu hỏi thường gặp mà doanh nghiệp và cá nhân hay thắc mắc khi đối mặt với tình huống này:
1. Việc lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có thể bị coi là hành vi gian lận trong thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ không?
Hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm theo quy định hiện nay có thể xem là hành vi gian lận, có dụng ý xấu khi thực hiện thủ tục đăng ký sở hữu trí tuệ. Điểm b khoản 1 Điều 117 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022 cũng quy định về việc từ chối cấp văn bằng bảo hộ nếu có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu.
2. Trong trường hợp thương hiệu chưa được đăng ký, hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có bị xem là vi phạm pháp luật không?
Theo điểm a khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với ... nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.”.
Do đó, trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng, nếu nhãn hiệu chưa được đăng ký thì hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có thể được cấp văn bằng bảo hộ theo nguyên tắc ưu tiên tại Điều 91 Luật Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022.

Tuy nhiên, nếu có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu thì đơn đăng ký này bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ theo điểm b khoản 1 Điều 117 Luật này.
3. Nếu người đăng ký cố ý lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm nhằm chiếm đoạt lợi ích, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Theo khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp: “Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ... đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu ... với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu ... từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”.
Như vậy, nếu cố ý lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm nhằm chiếm đoạt lợi ích, thì người đăng ký có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.
4. Người bị thiệt hại bởi hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có quyền yêu cầu bồi thường như thế nào?
Theo điểm b khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải bồi thường thiệt hại.
Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo Điều 204 Luật này bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
Như vậy, người bị thiệt hại bởi hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định trên.
5. Hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp không?
Theo khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với ... nhãn hiệu, tên thương mại, ... do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”.
Theo khoản 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022: “Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại”.
Như vậy, hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm có được xem là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định trên.
V. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm
Hành vi lấy thương hiệu bên khác để đăng ký cho phần mềm không chỉ tiềm ẩn rủi ro pháp lý mà còn ảnh hưởng đến uy tín và quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp.
Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn và hỗ trợ.