Quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là vấn đề được quan tâm nhiều hiện nay. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng các doanh nghiệp đặt gia công lỏng lẻo hoặc bỏ sót điều khoản sở hữu cải tiến trong hợp đồng mẫu phổ biến ra sao? Ảnh hưởng như thế nào?
Thực trạng các doanh nghiệp đặt gia công bỏ sót điều khoản sở hữu đối với các cải tiến trong hợp đồng mẫu là rất phổ biến hiện nay và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường sử dụng các mẫu hợp đồng gia công trên internet hoặc dùng lại các hợp đồng cũ. Các mẫu này chỉ tập trung vào các điều khoản về số lượng, đơn giá, thời hạn giao hàng và chi phí gia công mà hoàn toàn bỏ trống phần quyền sở hữu trí tuệ phát sinh liên quan trong quá trình gia công.

Việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của doanh nghiệp đặt gia công, khi bên nhận gia công tìm ra một phương pháp cải tiến trong quá trình gia công sản phẩm họ có thể đăng ký bảo hộ sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp cho phần cải tiến đó nếu hợp đồng không có quy định về điều khoản này. Khi đó, có thể dẫn đến phát sinh tranh chấp pháp lý và làm mất thời gian, chi phí và uy tín của doanh nghiệp với đối tác.
II. Khái niệm và nhận diện về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê
Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là gì?
- Theo Điều 542 Bộ luật dân sự 2015 quy định hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.
- Theo khoản 1, 4 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi điểm a khoản 1 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 quy định như sau:
- Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các đối tượng quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
- Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Theo đó, quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là quyền của cá nhân, tổ chức đối với sản phẩm được đặt gia công mà sản phẩm đó trong quá trình gia công được cải tiến từ sản phẩm, công nghệ gốc của bên đặt gia công.
2. Làm thế nào để nhận diện một cải tiến phát sinh là do bên nhận gia công chủ động sáng tạo hay hoàn toàn dựa trên chỉ dẫn kỹ thuật có sẵn của bên đặt gia công?
Để nhận diện một cải tiến phát sinh trong hoạt động gia công xuất phát từ sự chủ động sáng tạo của bên nhận gia công hay hoàn toàn dựa trên chỉ dẫn có sẵn của bên đặt gia công, bạn cần phân tích dựa trên các tiêu chí cốt lõi sau:
- Phân tích nội dung kỹ thuật và tài liệu gốc của bên đặt gia công: Kiểm tra kỹ bản vẽ, quy trình công nghệ, và tài liệu hướng dẫn mà bên đặt gia công cung cấp. Nếu tài liệu gốc đã mô tả chi tiết, rõ ràng từng bước thực hiện và cải tiến đó chỉ là kết quả tất yếu khi làm theo hướng dẫn, đó là dựa trên chỉ dẫn có sẵn. Hoặc nếu cải tiến nằm ngoài phạm vi tài liệu, giải quyết được một lỗi kỹ thuật mà tài liệu gốc chưa lường trước được, đó là sáng tạo của bên nhận gia công.
- Bản chất của cải tiến: Một "cải tiến" chỉ được công nhận là tài sản trí tuệ được bảo hộ khi nó là một giải pháp kỹ thuật (dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình) có khả năng giải quyết một vấn đề cụ thể bằng cách ứng dụng các quy luật tự nhiên theo khoản 12 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được bổ sung bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022.
Để được công nhận, cải tiến này cần đáp ứng các điều kiện tại Điều 60, 01, 62 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2019, 2022) như sau:
- Có tính mới: Chưa từng bị bộc lộ công khai ở bất kỳ đâu trên thế giới (bằng cách mô tả, sử dụng, hoặc xuất hiện trên các phương tiện thông tin) trước ngày nộp đơn đăng ký.
- Có trình độ sáng tạo: Không phải là những cải tiến hiển nhiên, đơn giản mà bất kỳ người có hiểu biết trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật đó đều có thể tự nghĩ ra.
- Có khả năng áp dụng công nghiệp: Có thể chế tạo, sản xuất hàng loạt hoặc ứng dụng thực tế trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật.
Do đó, nếu cải tiến đòi hỏi phải nghiên cứu, thử nghiệm nghiêm ngặt, hoặc áp dụng một bí quyết kỹ thuật riêng biệt của bên nhận gia công để tối ưu hóa năng suất/chất lượng, đây chính là sự chủ động sáng tạo và dấu hiệu để nhận diện một cải tiến phát sinh.

Vậy, để nhận diện một cải tiến phát sinh là do bên nhận gia công chủ động sáng tạo hay hoàn toàn dựa trên chỉ dẫn kỹ thuật có sẵn của bên đặt gia công thì có thể dựa trên các dấu hiệu theo quy định trên.
3. Những dấu hiệu nào giúp nhận diện bên nhận gia công đang có hành vi tẩu tán, sử dụng trái phép bí mật kinh doanh và cải tiến sản phẩm của bên đặt gia công?
Nhận diện sớm các dấu hiệu vi phạm của bên nhận gia công là yếu tố để doanh nghiệp kịp thời bảo vệ tài sản trí tuệ và bí mật kinh doanh của mình. Dưới đây là các dấu hiệu cảnh báo rõ ràng nhất được chia theo từng nhóm hành vi:
- Dấu hiệu từ hành vi và thái độ: Thiếu chuyên nghiệp trong bảo mật, không ký thỏa thuận bảo mật, coi nhẹ các thỏa thuận bảo mật, tiết lộ thông tin trong nội bộ không cần thiết. Hoặc hỏi quá nhiều về chi tiết kỹ thuật, hỏi sâu vào công thức, quy trình cốt lõi mà không phục vụ trực tiếp cho việc gia công sản phẩm.
- Sản phẩm tương tự xuất hiện: Đối thủ cạnh tranh bất ngờ tung ra sản phẩm có tính năng, thiết kế, công thức gần giống hệt sản phẩm của bên đặt gia công hoặc chính bên gia công lại chào bán sản phẩm tương tự.
- Không có cơ chế kiểm soát thông tin: Không có quy trình rõ ràng về việc lưu trữ, xử lý và tiêu hủy thông tin khách hàng (như công thức, thiết kế).
- Bên nhận gia công tự ý thay đổi kết cấu, thông số kỹ thuật hoặc dây chuyền công nghệ mà không có sự đồng ý bằng văn bản của bên đặt gia công.
Nhìn chung, những dấu hiệu trên giúp nhận diện bên nhận gia công đang có hành vi tẩu tán, sử dụng trái phép bí mật kinh doanh và cải tiến sản phẩm của bên đặt gia công.
III. Quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê
Tìm hiểu các quy định về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là vấn đề được nhiều người quan tâm. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê như thế nào?
- Theo khoản 5 Điều 181 Luật thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công là Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công. Và tại khoản 4 Điều 546 Bộ luật dân sự 2015, bên nhận gia công có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra.
- Theo khoản 1, 2 Điều 86 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định về quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí như sau:
- Tổ chức, cá nhân sau đây có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:
- Tác giả tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bằng công sức và chi phí của mình.
- Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen cung cấp nguồn gen, tri thức truyền thống về nguồn gen theo hợp đồng tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác (Điểm này được sửa đổi bởi điểm a khoản 7 Điều 71 Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025).
- Tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ đó (khoản này được bổ sung bởi khoản 22 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025).
- Trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký đó chỉ được thực hiện nếu được tất cả các tổ chức, cá nhân đó đồng ý.
- Theo khoản 1 Điều 92 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 quy định văn bằng bảo hộ ghi nhận:
- Chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu hoặc đại diện chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí đối với trường hợp người nộp đơn là tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (sau đây gọi là chủ văn bằng bảo hộ);
- Tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
- Đối tượng, phạm vi và thời hạn bảo hộ.
Theo quy định trên, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Trong quan hệ gia công vấn đề trở nên phức tạp khi:
- Bên nhận gia công cải tiến thiết kế hoặc quy trình do bên đặt hàng cung cấp.
- Bên nhận gia công phát triển giải pháp kỹ thuật mới trong quá trình sản xuất.
- Hai bên cùng đóng góp vào việc tạo ra sản phẩm cuối cùng.
Như vậy, quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được quy định như trên.
2. Chế tài vi phạm hành chính áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê?
- Hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được thể hiện qua các hành vi cụ thể như bên nhận gia công tự ý đăng ký độc quyền hoặc bán sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc kiểu dáng công nghiệp đối với các cải tiến sản phẩm do bên đặt gia công cung cấp thông tin/ý tưởng.
- Theo điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định 126/2021/NĐ-CP quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sau đây vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng gồm buôn bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp.
Lưu ý: Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định như sau:
- Mức phạt tiền đối với các hành vi trên là mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 250.000.000 đồng.
- Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.

Theo đó,chế tài vi phạm hành chính áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được quy định như trên.
3. Khi xảy ra tranh chấp, cơ quan tư pháp nào có thẩm quyền phán quyết tối cao về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê?
- Theo điểm d khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được bổ sung bởi điểm b khoản 76 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
- Đồng thời tại khoản 1 Điều 200 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi điểm a khoản 65 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 quy định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Vậy, cơ quan tư pháp có thẩm quyền phán quyết tối cao và chung thẩm đối với các tranh chấp về quyền sở hữu đối với các cải tiến phát sinh trong quá trình gia công thuê là Tòa án khu vực có thẩm quyền. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận đưa vụ việc ra giải quyết tại Trọng tài thương mại.
4. Thủ tục cấp li-xăng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê phải tuân thủ điều kiện gì?
Việc cấp li-xăng (chuyển quyền sử dụng) hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê phải tuân thủ các điều kiện sau:
- Đối với chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp theo khoản 2 Điều 138 và Điều 139 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được bổ sung bởi khoản 55 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định:
- Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp) theo khoản 2 Điều 138 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2019, 2022, 2025).
- Chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chỉ được chuyển nhượng quyền của mình trong phạm vi được bảo hộ.
- Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó.
- Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.
- Quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó.
- Quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, cá nhân là công dân Việt Nam và thường trú tại Việt Nam. Tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sở hữu phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng của tổ chức chủ trì theo quy định của Luật này.
- Ngoài ra, tại Điều 148 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2019 quy định về hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cụ thể:
- Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.
- Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 6 của Luật này, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thỏa thuận giữa các bên. Và trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp mới có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba.
- Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên giao bị chấm dứt.
Có thể thấy, thủ tục cấp li-xăng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê phải tuân thủ điều kiện nêu trên.
IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê
Để hiểu rõ hơn các quy định về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Cho xưởng ngoài sản xuất quần áo và họ tự ý thay đổi chi tiết khóa tiện lợi, vậy quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê này thuộc về ai?
- Hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công theo Điều 542 Bộ luật dân sự 2015.
- Theo Điều 546 Bộ luật dân sự 2015, nghĩa vụ của bên nhận gia công gồm:
- Bảo quản nguyên vật liệu do bên đặt gia công cung cấp.
- Báo cho bên đặt gia công biết để đổi nguyên vật liệu khác, nếu nguyên vật liệu không bảo đảm chất lượng; từ chối thực hiện gia công, nếu biết hoặc phải biết việc sử dụng nguyên vật liệu có thể tạo ra sản phẩm nguy hại cho xã hội.
- Giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng số lượng, chất lượng, phương thức, thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
- Giữ bí mật thông tin về quy trình gia công và sản phẩm tạo ra.
- Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, trừ trường hợp sản phẩm không bảo đảm chất lượng do nguyên vật liệu mà bên đặt gia công cung cấp hoặc do sự chỉ dẫn không hợp lý của bên đặt gia công.
- Hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công sau khi hoàn thành hợp đồng.
- Chi tiết "khóa tiện lợi" cải tiến có thể được bảo hộ dưới dạng giải pháp hữu ích, sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp. Theo Điều 86 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp thuộc về bên đầu tư kinh phí và phương tiện vật chất. Do xưởng gia công tự ý thay đổi, không nằm trong nhiệm vụ được giao hay hợp đồng gia công thuê ban đầu nên xưởng gia công không có quyền đăng ký bảo hộ đối với riêng chi tiết cải tiến đó. Do đó, xưởng ngoài sản xuất quần áo không có quyền sở hữu đối với tổng thể mẫu áo gốc của bên đặt gia công và không được phép sử dụng mẫu áo phối hợp với khóa này để bán ra thị trường.
Tóm lại, quyền sở hữu đối với các cải tiến phát sinh trong quá trình gia công thuê phụ thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu không có thỏa thuận cụ thể, quyền sở hữu cải tiến thuộc về bên đặt gia công (chủ sở hữu nguyên vật liệu), vì xưởng ngoài chỉ được phép sản xuất theo đúng yêu cầu đã thỏa thuận trong hợp đồng gia công.
2. Xưởng sản xuất lén lút mang thiết kế đi đăng ký kiểu dáng công nghiệp, phải làm gì để đòi lại quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê?
Để đòi lại quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê khi xưởng sản xuất lén lút mang thiết kế đi đăng ký kiểu dáng công nghiệp thì phải thực hiện như sau:
- Căn cứ khoản 2 Điều 30, khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tranh chấp kiểu dáng công nghiệp vì mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm tại tòa án.
- Ngoài ra, chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp còn có thể gửi Đơn yêu cầu xử lý vi phạm gửi tới Cục Sở hữu trí tuệ để xử lý bằng biện pháp hành chính.
- Theo Điều 25 Nghị định số 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Nghị định 46/2024/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, trong 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đơn, cơ quan chức năng cần tiến hành xem xét đơn yêu cầu xử lý xâm phạm và các chứng cứ kèm theo.
- Nếu đơn đáp ứng yêu cầu, cơ quan chức năng sẽ thông báo cho cá nhân, tổ chức yêu cầu xử lý vi phạm về thủ tục và biện pháp xử lý. Chủ thể quyền có thể được yêu cầu hợp tác, hỗ trợ trong thanh tra, kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm.
Trong quá trình xem xét xử lý đơn, cơ quan chức năng có thể yêu cầu bên bị cho là vi phạm cung cấp thông tin, chứng cứ, giải trình; yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cho ý kiến chuyên môn hoặc hoặc trưng cầu giám định để xác định yếu tố vi phạm.
Vậy, xưởng sản xuất lén lút mang thiết kế đi đăng ký kiểu dáng công nghiệp, để đòi lại quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê thì cần thực hiện các biện pháp trên.
3. Cần làm gì nếu đối tác đe dọa ngừng giao hàng nếu tôi không ký phụ lục nhượng lại quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê?
- Bên nhận gia công phải giao sản phẩm và bên đặt gia công phải nhận sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thỏa thuận theo Điều 549 Bộ luật dân sự 2015.
- Theo Điều 181 Luật thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia công gồm:
- Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theo đúng hợp đồng gia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượng và mức giá thỏa thuận.
- Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công.
- Theo khoản 1, 4 Điều 182 Luật thương mại 2005 quy định quyền và nghĩa vụ của bên nhận gia công gồm:
- Cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu để gia công theo thỏa thuận với bên đặt gia công về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và giá..
- Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia công hàng hóa trong trường hợp hàng hoá gia công thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.
- Theo Điều 545 và khoản 3 Điều 551 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên đặt gia công có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên nhận gia công vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường.
- Theo điểm d khoản 1 Điều 198 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được bổ sung bởi điểm b khoản 76 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 quy định chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Theo đó, hành vi đe dọa ngừng giao hàng nếu tôi không ký phụ lục nhượng lại quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có) hoặc khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền.
4. Mức phạt tiền tối đa được luật cho phép đối với hành vi đánh cắp quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là bao nhiêu?
- Xử phạt hành chính: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi vì mục đích kinh doanh trong trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ vi phạm đến 3.000.000 đồng gồm buôn bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hóa, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp theo theo điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 10 Điều 1 Nghị định 126/2021/NĐ-CP.
Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 99/2013/NĐ-CP quy định mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 250.000.000 đồng. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500.000.000 đồng.
Nhìn chung, mức phạt tiền tối đa được luật cho phép đối với hành vi đánh cắp quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê là là 250.000.000 đồng đối với cá nhân và 500.000.000 đồng với tổ chức vi phạm.
5. Nếu kỹ sư hai bên phối hợp tạo ra giải pháp mới thì tỷ lệ phân chia quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được tính ra sao?
Trường hợp hai bên phối hợp tạo ra giải pháp mới thì tỷ lệ phân chia quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được tính ra dựa trên thỏa thuận trong hợp đồng gia công ban đầu đã ký. Vì hợp đồng gia công là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công theo Điều 542 Bộ luật dân sự 2015.
Nếu hợp đồng không quy định cụ thể, việc phân chia thường dựa trên sự đóng góp thực tế: Tỷ lệ được xác định dựa trên mức độ đóng góp về công sức, chi phí đầu tư (thời gian, máy móc, vật tư nghiên cứu), hoặc ý tưởng sáng tạo cốt lõi của mỗi bên.
Tóm lại, khi kỹ sư hai bên phối hợp tạo ra giải pháp mới thì tỷ lệ phân chia quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê được tính theo sự thỏa thỏa của các bên dựa trên công sức đóng góp thực tế mỗi bên.
6. Hợp đồng kinh tế đã thanh lý 3 năm, bên nhận việc có quyền thương mại hóa quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê mà họ từng làm ra không?
- Theo Điều 549 và Điều 553 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
- Bên nhận gia công phải giao sản phẩm và bên đặt gia công phải nhận sản phẩm theo đúng thời hạn và tại địa điểm đã thỏa thuận.
- Khi hợp đồng gia công chấm dứt, bên nhận gia công phải hoàn trả nguyên vật liệu còn lại cho bên đặt gia công, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Việc bên nhận việc (bên nhận gia công) có quyền thương mại hóa các cải tiến sản phẩm sau 3 năm thanh lý hợp đồng hay không phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung điều khoản sở hữu trí tuệ và bảo mật được ký kết trước đó, chứ không tự động phát sinh quyền theo thời gian.
- Nếu hợp đồng nêu rõ "Tất cả các quyền sở hữu trí tuệ phát sinh, bao gồm cả các cải tiến, sửa đổi sản phẩm trong quá trình thực hiện hợp đồng đều thuộc sở hữu độc quyền của bên đặt gia công", bên nhận việc hoàn toàn không có quyền thương mại hóa. Việc thanh lý hợp đồng chỉ là chấm dứt nghĩa vụ thực hiện gia công, không làm mất đi quyền sở hữu tài sản trí tuệ đã được xác lập của bên đặt gia công.
- Nếu các bên không thỏa thuận ai là chủ sở hữu đối với các cải tiến kỹ thuật, kiểu dáng phát sinh. Theo Điều 86 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022, quyền đăng ký bảo hộ trước hết thuộc về tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất. Do bên đặt gia công là bên trả thù lao và cung cấp mẫu/nguyên liệu gốc, họ thường được ưu tiên nắm quyền đăng ký bảo hộ. Nếu bên nhận việc tự ý mang đi đăng ký hoặc thương mại hóa mà không có văn bằng bảo hộ đứng tên mình, đó là hành vi vi phạm pháp luật.
Kết luận lại, theo phân tích trên, hợp đồng đã thanh lý 3 năm, bên nhận việc có quyền thương mại hóa quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê mà họ từng làm ra hay không phụ thuộc vào thỏa thuận các bên trong hợp đồng. Nếu cả hai bên không có thỏa thuận thì thông thường bên nhận việc sẽ không có quyền thương mại hóa quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê.
V. Hãy liên hệ NPLaw để được tư vấn liên quan đến quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê!
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về quyền sở hữu đối với các cải tiến sản phẩm phát sinh trong quá trình gia công thuê mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.