Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ giá trị sáng tạo, uy tín thương hiệu và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Bài viết này sẽ phân tích những quy định pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh, đồng thời đưa ra các lưu ý cần thiết để doanh nghiệp vận hành hiệu quả và an toàn.

I. Thực trạng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh 

Hiện nay, thực trạng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh cho thấy nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng đúng mức đến việc thiết lập cơ chế quản lý, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ tại các đơn vị phụ thuộc. 

Một số chi nhánh sử dụng logo, nhãn hiệu, kiểu dáng hoặc phần mềm của công ty mẹ nhưng không được cấp phép rõ ràng bằng văn bản, dẫn đến nguy cơ tranh chấp nội bộ hoặc vi phạm pháp luật khi có bên thứ ba khiếu nại.

Ngoài ra, việc thiếu quy trình giám sát khiến chi nhánh dễ gặp tình trạng nhân viên tự ý sử dụng, tiết lộ hoặc chuyển giao bí mật kinh doanh ra bên ngoài. Thực tế cũng cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chứng minh quyền sử dụng hợp pháp tại chi nhánh do hồ sơ, chứng từ không đầy đủ hoặc chưa được đồng bộ với công ty mẹ. 

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện cơ chế pháp lý và quản trị nội bộ liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong hệ thống chi nhánh

II. Quy định của pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh 

Để đảm bảo việc sử dụng và khai thác tài sản trí tuệ tại các đơn vị phụ thuộc diễn ra hợp pháp, minh bạch và hiệu quả, doanh nghiệp cần nắm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh nhằm phòng ngừa rủi ro và bảo vệ tối đa quyền lợi của mình

1. Quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh là gì? 

Theo khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh là tổng hợp các quyền của chủ thể (thường là công ty mẹ) đối với các tài sản trí tuệ như nhãn hiệu, tên thương mại, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền tác giả, phần mềm, bí mật kinh doanh… được sử dụng, khai thác hoặc quản lý tại chi nhánh. 

Mặc dù chi nhánh không có tư cách pháp nhân độc lập, nhưng khi thực hiện hoạt động kinh doanh, chi nhánh có thể được công ty mẹ ủy quyền hoặc cho phép sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ này. 

Việc xác lập, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh cần tuân thủ quy định pháp luật hiện hành, đồng thời có sự phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng để tránh phát sinh tranh chấp hoặc vi phạm.

2. Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh

Các căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), cụ thể như sau:

  • Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.
  • Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chư­ơng trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây ph­ương hại đến quyền tác giả.
  • Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
    • Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
  • Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
  • Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).

3. Có giới hạn quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh không? 

Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), giới hạn quyền sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

  • Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).
  • Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và không được vi phạm quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
  • Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

III. Giải đáp các thắc mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh 

Trong quá trình vận hành, nhiều doanh nghiệp và chi nhánh thường gặp phải những câu hỏi xoay quanh việc sử dụng, bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ, đặc biệt là khi liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng giữa công ty mẹ và đơn vị phụ thuộc. Dưới đây là phần giải đáp các thắc mắc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh nhằm giúp doanh nghiệp nắm bắt thông tin chính xác và áp dụng hiệu quả trong thực tiễn

1. Có thể chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh cho bên thứ ba không? 

Tại khoản 1 Điều 138 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác.

Trong đó đối tượng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.

Về nguyên tắc, chi nhánh không có tư cách pháp nhân nên không phải là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, mà chỉ được công ty mẹ giao hoặc ủy quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ (như nhãn hiệu, bí mật kinh doanh, phần mềm, sáng chế…). Vì vậy, chi nhánh không thể tự mình chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ cho bên thứ ba.

Nếu muốn thực hiện việc chuyển nhượng, chỉ công ty mẹ – với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp - mới có quyền ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ. Chi nhánh chỉ có thể tham gia hỗ trợ hoặc làm đầu mối giao dịch nếu được công ty mẹ ủy quyền bằng văn bản, và việc chuyển nhượng vẫn phải đứng tên công ty mẹ trên hợp đồng cũng như hồ sơ đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Có bắt buộc phải đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh không? 

Dựa trên quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 có thể thấy rằng về nguyên tắc, chi nhánh không phải là chủ thể đứng tên đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bởi chi nhánh không có tư cách pháp nhân độc lập. Chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ chính là công ty mẹ hoặc cá nhân/tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp.

Tuy nhiên, việc đăng ký bảo hộ đối tượng sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền…) vẫn rất cần thiết nếu các tài sản trí tuệ này được sử dụng trong hoạt động của chi nhánh. Khi quyền được bảo hộ đứng tên công ty mẹ, chi nhánh có thể được ủy quyền sử dụng hợp pháp, từ đó giảm thiểu rủi ro bị xâm phạm hoặc tranh chấp.

Pháp luật không bắt buộc riêng chi nhánh phải đăng ký bảo hộ, nhưng nếu không thực hiện đăng ký cho toàn hệ thống (thông qua công ty mẹ), doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý vi phạm, bảo vệ thương hiệu hoặc chứng minh quyền sở hữu khi có tranh chấp.

3. Ai có trách nhiệm bảo vệ và theo dõi việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh? 

Căn cứ Điều 9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tổ chức và cá nhân không chỉ có quyền áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình mà còn có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của các chủ thể khác. 

Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không dừng lại ở việc phòng ngừa các hành vi xâm phạm, mà còn bao gồm cả việc kịp thời xử lý, chấm dứt hành vi vi phạm và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi quyền lợi bị xâm hại. Để thực hiện điều này, pháp luật trao cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ quyền áp dụng nhiều biện pháp tự bảo vệ phù hợp với từng tình huống cụ thể.

Các biện pháp tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 76 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) bao gồm:

Thứ nhất, áp dụng các biện pháp công nghệ nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đưa thông tin quản lý quyền hoặc sử dụng các phương thức kỹ thuật khác để ngăn chặn hành vi xâm phạm. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể gắn thông tin về căn cứ phát sinh, văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu, phạm vi và thời hạn bảo hộ… lên sản phẩm, phương tiện dịch vụ, bản gốc hoặc bản sao tác phẩm, bản định hình cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng… nhằm thông báo rằng sản phẩm đang được bảo hộ và cảnh báo người khác không xâm phạm. Ngoài ra, có thể áp dụng dấu hiệu nhận biết hoặc biện pháp kỹ thuật để đánh dấu, phân biệt và bảo vệ sản phẩm.

Thứ hai, yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ nội dung vi phạm trên môi trường mạng, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại. Khi thực hiện quyền này, chủ thể cần chứng minh hành vi xâm phạm và gửi văn bản thông báo cho người vi phạm, trong đó nêu rõ căn cứ phát sinh quyền, văn bằng bảo hộ, phạm vi và thời hạn bảo hộ, đồng thời ấn định thời hạn hợp lý để chấm dứt hành vi vi phạm.

Thứ ba, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản pháp luật liên quan. Việc yêu cầu này phải được thực hiện bằng đơn kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của chủ thể quyền.

Thứ tư, khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trong trường hợp này, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể đề nghị tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế thiệt hại.

4. Cơ quan nào có thẩm quyền xử lý vi phạm liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh? 

Khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành năm 2005 quy định:

1. Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình:

a) Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ;

b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;

c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, theo đó:

  • Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

  • Tòa án nhân dân

Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.

  • Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp

Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Ủy ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

  • Cơ quan hải quan

Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

Như vậy, Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

5. Có thể đồng sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh giữa nhiều chi nhánh không? 

Căn cứ theo Điều 16 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, quyền của đồng tác giá, đồng chủ sở hữu quyền tác giả được quy định như sau:

(i) Các đồng tác giả đồng thời là đồng chủ sở hữu quyền tác giả thỏa thuận về việc thực hiện quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 12a Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15).

(ii) Các đồng tác giả không đồng thời là đồng chủ sở hữu quyền tác giả thì các đồng tác giả thỏa thuận về việc thực hiện quyền nhân thân, các đồng chủ sở hữu quyền tác giả thỏa thuận về việc thực hiện quyền tài sản đối với tác phẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và khoản 3 Điều 47 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15).

(iii) Các đồng tác giả, đồng chủ sở hữu quyền tác giả không được phản đối việc cho phép khai thác, sử dụng tác phẩm theo cách thông thường và vì lợi ích chung.

(iv) Đồng chủ sở hữu quyền tác giả có thể tuyên bố bằng văn bản về việc từ bỏ quyền của mình đối với tác phẩm quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật số 07/2022/QH15) và thông báo cho các đồng chủ sở hữu quyền tác giả khác biết. Quyền của đồng chủ sở hữu quyền tác giả đã tuyên bố từ bỏ được tự động chuyển giao cho các đồng chủ sở hữu quyền tác giả khác.

Theo đó, có thể thấy rằng về nguyên tắc, chi nhánh không có tư cách pháp nhân nên không thể trực tiếp đứng tên là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, và do đó cũng không thể thiết lập quan hệ “đồng sở hữu” giữa nhiều chi nhánh.

Quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể đứng tên công ty mẹ (hoặc các tổ chức/cá nhân khác là chủ thể hợp pháp), sau đó công ty mẹ mới ủy quyền hoặc cho phép nhiều chi nhánh cùng khai thác, sử dụng. Trong trường hợp muốn “chia sẻ” quyền khai thác giữa các chi nhánh, công ty mẹ cần ban hành quy chế nội bộ hoặc hợp đồng nội bộ quy định rõ phạm vi sử dụng, quyền và nghĩa vụ của từng chi nhánh để tránh tranh chấp.

Nếu muốn quyền sở hữu trí tuệ thực sự ở dạng đồng sở hữu, thì việc đứng tên đồng sở hữu phải là giữa các pháp nhân (ví dụ: giữa công ty mẹ với một công ty khác), chứ không thể là giữa các chi nhánh cùng thuộc một công ty mẹ.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong chi nhánh