Hãng luật NPLaw thường xuyên tiếp nhận các yêu cầu tư vấn từ các chủ doanh nghiệp khi phát hiện thương hiệu của mình bị nhân viên đem đi đăng ký độc quyền. Bài viết sẽ phân tích đối với hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty nhằm giúp nhà quản trị nhận diện rủi ro và có phương án xử lý đối với hành vi vi phạm này.

I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty

Khi sự việc Nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty xảy ra, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với một chuỗi các rủi ro pháp lý và thương mại vô cùng nghiêm trọng. Rủi ro đầu tiên và trực tiếp nhất là việc mất quyền sở hữu chính danh đối với thương hiệu do mình sáng lập. Nếu nhân viên này được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ, họ có quyền cấm ngược lại doanh nghiệp sử dụng nhãn hiệu đó. Khi doanh nghiệp tiếp tục gắn nhãn hiệu lên sản phẩm, bao bì, doanh nghiệp sẽ bị coi là chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hậu quả là hàng hóa có nguy cơ bị cơ quan Quản lý thị trường tịch thu, tiêu hủy, và doanh nghiệp có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền lên đến hàng trăm triệu đồng.

Ngoài ra, nhân viên này có thể lợi dụng văn bằng bảo hộ để tống tiền doanh nghiệp, ép buộc công ty phải mua lại chính nhãn hiệu của mình với giá cắt cổ, hoặc đem chuyển nhượng/nhượng quyền cho các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên thị trường. Điều này dẫn đến sự đứt gãy trong chuỗi cung ứng, làm suy giảm nghiêm trọng uy tín của doanh nghiệp trong mắt đối tác và người tiêu dùng, đồng thời kéo theo các vụ kiện tụng dân sự kéo dài nhiều năm, gây tổn thất lớn về chi phí cơ hội và tài chính.

Tóm lại, sự chậm trễ trong việc xác lập quyền sở hữu đã tạo ra kẽ hở để người nội bộ trục lợi, đẩy doanh nghiệp vào thế bị động hoàn toàn.

II. Tìm hiểu về nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty

Để có chiến lược đòi lại tài sản hợp pháp, chúng ta cần phân tích sâu sắc bản chất pháp lý của hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty và sự vi phạm các nguyên tắc nền tảng trong pháp luật dân sự.

1. Bản chất pháp lý của việc nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty được hiểu như thế nào trong Luật Sở hữu trí tuệ?

Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (SĐ, BS năm 2022) không có điều khoản định nghĩa riêng về hành vi "nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty". Tuy nhiên, xét về bản chất pháp lý, đây là trường hợp một cá nhân đứng tên nộp đơn đăng ký đối với dấu hiệu mà quyền đăng ký thực chất thuộc về doanh nghiệp hoặc được hình thành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. 

Theo khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009), quyền đăng ký nhãn hiệu thuộc về tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp nhãn hiệu đối với hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất hoặc cung cấp. Trong trường hợp nhãn hiệu được xây dựng từ nguồn lực tài chính, chiến lược kinh doanh, hệ thống nhận diện thương hiệu và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp thì doanh nghiệp mới là chủ thể có quyền đăng ký, không phải người lao động.

Do đó, nếu nhân viên lợi dụng việc tiếp cận thông tin nội bộ để đứng tên đăng ký trước thì đây là hành vi có dấu hiệu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và có thể trở thành căn cứ để yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng hoặc giải quyết tranh chấp tại Tòa án.

2. Ai là người có quyền đăng ký nhãn hiệu và tại sao hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty lại vi phạm nguyên tắc này?

Theo khoản 1 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009), tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp. Ngoài ra:

  • Khoản 2 Điều 87 quy định tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm do mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất, với điều kiện người sản xuất không sử dụng và không phản đối việc đăng ký.
  • Khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 87 quy định quyền đăng ký đối với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và trường hợp đồng chủ thể.

Như vậy, quyền đăng ký không phát sinh chỉ vì một cá nhân là người trực tiếp thiết kế logo, nghĩ ra tên thương hiệu hoặc tham gia xây dựng bộ nhận diện. Nếu những công việc đó được thực hiện theo nhiệm vụ được giao, bằng nguồn lực của doanh nghiệp thì quyền đăng ký vẫn thuộc về doanh nghiệp. Kết luận lại, việc xác định chủ thể có quyền đăng ký phải dựa trên bản chất của quá trình hình thành và sử dụng nhãn hiệu, không chỉ căn cứ vào người đứng tên trong đơn đăng ký.

3. Vì sao hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty có thể dẫn đến tranh chấp pháp lý?

Sau khi hiểu ai là chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu, doanh nghiệp cũng cần nhận thức rõ vì sao hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty thường là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp pháp lý kéo dài.

  • Thứ nhất, tranh chấp phát sinh do có sự khác nhau giữa người đứng tên trên đơn đăng ký và người thực sự có quyền đăng ký. Trong nhiều trường hợp, nhân viên là người trực tiếp thực hiện hồ sơ đăng ký nên đứng tên cá nhân, trong khi toàn bộ chi phí xây dựng thương hiệu, chiến lược kinh doanh, hoạt động quảng bá và việc sử dụng nhãn hiệu đều do doanh nghiệp thực hiện.
  • Thứ hai, doanh nghiệp có thể phải tiến hành đồng thời nhiều thủ tục pháp lý như phản đối đơn đăng ký, khiếu nại quyết định cấp văn bằng, yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ hoặc khởi kiện tại Tòa án để xác định quyền sở hữu đối với nhãn hiệu.
  • Thứ ba, nếu trong thời gian tranh chấp, nhân viên chuyển nhượng hoặc cấp phép sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác thì quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Khi đó, tranh chấp không còn giới hạn giữa doanh nghiệp và người lao động mà có thể phát sinh với bên nhận chuyển nhượng.

Ngoài ra, việc nhãn hiệu bị đăng ký dưới tên người khác còn khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc mở rộng hệ thống kinh doanh, nhượng quyền thương mại, gọi vốn đầu tư hoặc bảo vệ thương hiệu trước hành vi xâm phạm của bên thứ ba. Vì thế, doanh nghiệp nên đăng ký nhãn hiệu ngay từ khi bắt đầu đưa thương hiệu vào hoạt động và xây dựng quy chế quản lý tài sản sở hữu trí tuệ để hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp.

4. Có thể coi hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty là vi phạm đạo đức nghề nghiệp không và vì sao?

Xét dưới góc độ pháp luật, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (SĐ, BS năm 2022), Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn hiện hành chưa có quy định cụ thể xác định hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty là hành vi "vi phạm đạo đức nghề nghiệp".

Tuy nhiên, nếu người lao động lợi dụng vị trí công tác, thông tin nội bộ hoặc nhiệm vụ được giao để chiếm đoạt quyền đăng ký nhãn hiệu của doanh nghiệp thì hành vi này có thể vi phạm:

  • Nghĩa vụ trung thực, thiện chí trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động;
  • Nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động năm 2019 (đối với trường hợp các bên có thỏa thuận);
  • Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu gây tổn thất cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015.

Tóm lại, mặc dù pháp luật chưa định danh đây là hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nhưng trong thực tiễn đây là hành vi có thể vi phạm nghĩa vụ của người lao động và làm phát sinh trách nhiệm dân sự, trách nhiệm lao động hoặc các trách nhiệm pháp lý khác tùy từng trường hợp.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty

Hệ thống pháp luật đã thiết lập các cơ chế từ phòng ngừa đến xử lý triệt để nhằm bảo vệ doanh nghiệp trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ nội bộ.

1. Luật lao động và luật sở hữu trí tuệ quy định ra sao về trách nhiệm khi phát hiện nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty?

Về pháp luật sở hữu trí tuệ, nếu doanh nghiệp có căn cứ chứng minh mình mới là chủ thể có quyền đăng ký thì có thể thực hiện các quyền theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như:

  • Nộp ý kiến phản đối đơn đăng ký;
  • Khiếu nại quyết định cấp văn bằng;
  • Yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ theo Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 30 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) nếu văn bằng được cấp không đúng đối tượng có quyền đăng ký.

Về pháp luật lao động, nếu hành vi của người lao động vi phạm nội quy lao động hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp thì người sử dụng lao động có thể xem xét xử lý kỷ luật theo Điều 122, Điều 124 Bộ luật lao động 2019 và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 129 Bộ luật lao động 2019.

Nếu có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, lừa đảo hoặc các hành vi vi phạm pháp luật hình sự khác thì tùy từng vụ việc, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, hiện nay không có tội danh riêng đối với hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty. Vì vậy, doanh nghiệp cần đánh giá đầy đủ bản chất vụ việc để lựa chọn đúng biện pháp pháp lý.

2. Điều kiện để doanh nghiệp nộp đơn phản đối cấp văn bằng khi phát hiện nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty là gì?

Theo Điều 112 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 39 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ kể từ ngày đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được công bố cho đến trước ngày ra quyết định cấp văn bằng. Ngoài ra, theo Điều 112a Luật Sở hữu trí tuệ 2022, nhãn hiệu bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:

a) Có cơ sở để khẳng định rằng đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ;

b) Có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;

c) Đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ nhưng không phải là đơn có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 90 của Luật này;

d) Đơn thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 90 của Luật này mà không được sự thống nhất của tất cả những người nộp đơn;

đ) Việc sửa đổi, bổ sung đơn làm mở rộng phạm vi đối tượng đã bộc lộ hoặc nêu trong đơn hoặc làm thay đổi bản chất của đối tượng yêu cầu đăng ký nêu trong đơn.

Doanh nghiệp cần chuẩn bị các tài liệu chứng minh như:

  • Quá trình sử dụng nhãn hiệu;
  • Hồ sơ thiết kế thương hiệu;
  • Hợp đồng lao động;
  • Quyết định giao nhiệm vụ;
  • Chứng từ chi phí quảng bá;
  • Tài liệu chứng minh nhãn hiệu thuộc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
  • Chứng cứ chứng minh người lao động chỉ là người thực hiện công việc theo phân công.

Kết luận lại, doanh nghiệp càng nộp phản đối sớm thì khả năng bảo vệ quyền lợi càng cao và hạn chế được các tranh chấp phát sinh sau khi văn bằng được cấp.

3. Trình tự, thủ tục khiếu nại tại Cục Sở hữu trí tuệ khi có hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty diễn ra như thế nào?

Nếu nhân viên đã được cấp Bằng độc quyền, doanh nghiệp thực hiện thủ tục yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng căn cứ theo Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 39 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), Luật Khiếu nại năm 2011. Về cơ bản, thủ tục gồm các bước sau:

  • Bước 1: Chuẩn bị đơn khiếu nại, trong đó nêu rõ nội dung bị khiếu nại, căn cứ pháp lý và yêu cầu giải quyết.
  • Bước 2: Chuẩn bị tài liệu, chứng cứ chứng minh doanh nghiệp mới là chủ thể có quyền đăng ký nhãn hiệu.
  • Bước 3: Nộp hồ sơ đến Cục Sở hữu trí tuệ.
  • Bước 4: Cục Sở hữu trí tuệ tiếp nhận, xem xét hồ sơ, yêu cầu bổ sung (nếu cần), lấy ý kiến các bên liên quan và ban hành quyết định giải quyết theo thẩm quyền.

Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, doanh nghiệp có thể tiếp tục khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định của pháp luật. Tóm lại, việc chuẩn bị chứng cứ đầy đủ ngay từ đầu có ý nghĩa quyết định đối với kết quả giải quyết khiếu nại.

IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty

Sau khi nắm được các quy định pháp luật cơ bản, doanh nghiệp thường đặt ra nhiều câu hỏi về thời hiệu, căn cứ pháp lý và các biện pháp xử lý khi phát hiện nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty. Dưới đây là những vấn đề thường gặp trong thực tiễn.

1. Thời hiệu để doanh nghiệp thực hiện quyền phản đối hoặc hủy bỏ đơn do nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty là bao lâu?

Đối với phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu, theo khoản 1 Điều 112 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 39 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), bất kỳ bên thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ kể từ ngày đơn được công bố đến trước ngày Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Căn cứ theo khoản 1 Điều 112a Luật Sở hữu trí tuệ 2022, trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, trong các thời hạn sau đây, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ:

a) Chín tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố;

b) Bốn tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố;

c) Năm tháng kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố;

d) Ba tháng kể từ ngày đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố.

Về thời hiệu yêu cầu hủy bỏ, khoản 3 Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (SĐ, BS năm 2022) quy định: Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là năm năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp vẫn có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng nếu chứng minh được người đứng tên đăng ký không phải là chủ thể có quyền.

Vì vậy, việc theo dõi thường xuyên các đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp là rất cần thiết để doanh nghiệp kịp thời bảo vệ quyền lợi của mình.

2. Khi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty gây thiệt hại, cơ sở pháp lý để yêu cầu bồi thường là gì?

Khi hành vi nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty gây thiệt hại thực tế, doanh nghiệp có thể xem xét yêu cầu bồi thường trên nhiều cơ sở pháp lý khác nhau tùy từng quan hệ pháp luật.

  • Thứ nhất, nếu giữa doanh nghiệp và người lao động tồn tại quan hệ lao động, việc bồi thường có thể được xem xét theo Điều 217 Bộ luật Lao động năm 2019 khi người lao động có hành vi vi phạm nghĩa vụ và gây thiệt hại cho người sử dụng lao động.
  • Thứ hai, nếu hành vi của người lao động làm phát sinh thiệt hại ngoài hợp đồng thì căn cứ yêu cầu bồi thường được áp dụng theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, người nào có hành vi xâm phạm tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Việc xác định mức bồi thường được thực hiện theo các nguyên tắc tại Điều 585 và các khoản thiệt hại cụ thể theo Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm thiệt hại về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại, cũng như các khoản tổn thất khác theo quy định của pháp luật. Tóm lại, yêu cầu bồi thường chỉ được chấp nhận khi doanh nghiệp chứng minh đầy đủ căn cứ pháp lý và thiệt hại thực tế phát sinh.

3. Nếu nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty thành công và đem bán cho bên thứ ba, doanh nghiệp phải xử lý thế nào?

Đây là tình huống khá phức tạp vì quan hệ pháp lý không còn giới hạn giữa doanh nghiệp và người lao động. Trước hết, doanh nghiệp cần nhanh chóng xác định:

  • Văn bằng bảo hộ đã được cấp hay chưa;
  • Hợp đồng chuyển nhượng đã được đăng ký tại Cục Sở hữu trí tuệ hay chưa;
  • Bên nhận chuyển nhượng có phải là bên ngay tình hay không.

Nếu có căn cứ chứng minh người lao động không có quyền đăng ký ngay từ đầu, doanh nghiệp vẫn có thể yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ theo điểm a khoản 1 Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi Khoản 30 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), đồng thời xem xét tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng.

Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu, doanh nghiệp có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu:

  • Xác định chủ thể có quyền đối với nhãn hiệu;
  • Tuyên giao dịch chuyển nhượng vô hiệu (nếu có căn cứ theo Bộ luật Dân sự);
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại;
  • Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Vì thế, ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường, doanh nghiệp nên thu thập chứng cứ và tham khảo ý kiến của luật sư chuyên sâu về sở hữu trí tuệ để lựa chọn phương án xử lý phù hợp.

4. Thời hiệu khởi kiện và bằng chứng cần thu thập để xử lý tranh chấp do nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty là gì?

Căn cứ Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng (nếu kiện vi phạm hợp đồng lao động/NDA) là 03 năm kể từ ngày người có quyền lợi phát hiện quyền lợi bị xâm phạm. 

Ngoài ra, đối với tranh chấp dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, doanh nghiệp nên chuẩn bị các tài liệu sau:

  • Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
  • Hồ sơ thiết kế logo, tên thương hiệu;
  • Email giao việc, quyết định phân công nhiệm vụ;
  • Hợp đồng lao động;
  • Nội quy lao động;
  • Quy chế bảo mật thông tin;
  • Hợp đồng thiết kế thương hiệu;
  • Hóa đơn, chứng từ quảng cáo;
  • Tài liệu chứng minh quá trình sử dụng nhãn hiệu trên thị trường;
  • Chứng cứ thể hiện nhân viên đã nộp đơn đăng ký dưới danh nghĩa cá nhân.

Việc chứng minh quá trình hình thành và sử dụng nhãn hiệu trên thực tế sẽ giúp doanh nghiệp củng cố đáng kể vị thế pháp lý trong quá trình giải quyết tranh chấp. Kết luận lại, chứng cứ càng đầy đủ thì khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp càng cao.

5. Biện pháp khẩn cấp tạm thời nào doanh nghiệp có thể áp dụng để ngăn chặn hậu quả từ việc nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty?

Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nếu có căn cứ cho rằng việc chậm áp dụng biện pháp bảo vệ sẽ gây thiệt hại khó khắc phục, doanh nghiệp có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tùy từng vụ việc, các biện pháp có thể được xem xét gồm:

  • Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp;
  • Kê biên tài sản đang tranh chấp;
  • Cấm thực hiện hành vi nhất định;
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đồng thời, theo Điều 206 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ cũng có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong các vụ việc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ khi đáp ứng điều kiện luật định. Tóm lại, việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là công cụ pháp lý quan trọng để doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước nguy cơ thiệt hại tiếp tục phát sinh.

V. Doanh nghiệp của bạn đang đứng trước nguy cơ mất thương hiệu vì nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu của công ty, tại sao không liên hệ ngay với NPLaw để nhận giải pháp bảo vệ tối ưu?

Khi phát hiện nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty, yếu tố quyết định không chỉ là xác định đúng căn cứ pháp lý mà còn là lựa chọn phương án xử lý kịp thời. Nếu chậm trễ, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với việc nhãn hiệu bị cấp văn bằng cho người không có quyền, bị chuyển nhượng cho bên thứ ba hoặc phát sinh các tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh. Vì vậy, nếu doanh nghiệp đang gặp phải trường hợp nhân viên tự ý đăng ký nhãn hiệu công ty hoặc cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, hãy liên hệ với NPLaw để được đội ngũ luật sư hỗ trợ nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.