Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là một loại tội phạm hình sự. Bài viết tìm hiểu quy định pháp luật về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và giải đáp một số thắc mắc liên quan.
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là loại tội phạm được quan tâm hiện nay. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn hiện nay
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn hiện nay đang ngày càng diễn biến phức tạp, gây ra hậu quả và tác hại lớn cho xã hội, loại tội phạm này không chỉ tăng về số lượng mà cả về đối tượng phạm tội. Phương thức, thủ đoạn phạm tội cũng ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng lớn. Tình trạng này gây ra không ít những khó khăn, thách thức đối với các cơ quan tố tụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh và phòng chống tội phạm.
II. Tìm hiểu về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Khái niệm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?
Hiện nay, pháp luật không có quy định cụ thể định nghĩa về hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên căn cứ tại Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) có thể hiểu công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai lấy tài sản trước sự chứng kiến của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản.
2. Những đặc điểm cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?
Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm c khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 thuộc các tội xâm phạm sở hữu. Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
- Chủ thể: Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Cụ thể như sau:
- Về độ tuổi: Người phạm tội phải đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
- Về năng lực trách nhiệm hình sự: Người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự phải có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Khách thể: Mặt khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của con người và các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu của con người.
- Mặt khách quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi này thể hiện ở chỗ người phạm tội chủ động chiếm đoạt tài sản của người khác mà không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để uy hiếp tinh thần người quản lý tài sản. Hành vi này được thực hiện công khai, trước sự chứng kiến của người khác hoặc trong điều kiện khách quan dễ dàng bị người khác phát hiện.
- Mặt chủ quan của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi được thực hiện bởi lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội có ý thức, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai, trái pháp luật. Mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản của người khác để trục lợi cho bản thân hoặc cho người khác.
Tóm lại, những đặc điểm cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được phân tích như trên.
3. Yếu tố "công khai, không che giấu" trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu cụ thể là gì?
Yếu tố "công khai, không che giấu" trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu cụ thể như sau:
- Người phạm tội không dùng bất kỳ biện pháp che đậy hay lừa dối nào khi thực hiện hành vi phạm tội, thực hiện việc chiếm đoạt giữa thanh thiên bạch nhật hoặc ở nơi có nhiều người, không có bất kỳ hành động nào nhằm che đậy mục đích phạm tội.
- Hành vi lấy tài sản diễn ra ngay trước mặt chủ tài sản, người quản lý, hoặc những người xung quanh.
- Người phạm tội thường lợi dụng sự sơ hở của người quản lý tài sản hoặc những tình huống khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, hoặc chiến tranh, những hoàn cảnh khiến cho người sở hữu tài sản không thể bảo vệ tài sản của mình một cách đầy đủ.
Vậy, yếu tố "công khai, không che giấu" trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được hiểu cụ thể nêu trên.
4. Khách thể và chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản bao gồm những đối tượng nào?
Căn cứ tại Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) thì khách thể và chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản bao gồm những đối tượng sau:
- Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng tác động của tội này là tài sản, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá.
- Mặt khách quan của tội danh này bao gồm hành vi phạm tội, thủ đoạn và hậu quả.
- Hành vi khách quan: Tính chất "công khai" thể hiện ở chỗ người phạm tội không che giấu hành vi của mình trước mặt chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc những người khác. Mặc dù hành vi chiếm đoạt diễn ra trước sự chứng kiến của người quản lý tài sản, nhưng họ không thể làm gì để ngăn cản.
- Thủ đoạn phạm tội: Thủ đoạn chính là lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Sự sơ hở này không phải do người phạm tội tạo ra, mà là một tình trạng khách quan sẵn có. Điều này có thể là do người bị hại không dám hoặc không đủ khả năng chống cự (ví dụ: người già yếu, phụ nữ, người ốm yếu). Thủ đoạn này cũng có thể được thực hiện bằng cách lợi dụng các hoàn cảnh khách quan đặc biệt như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, chiến tranh, hoặc dịch bệnh khi người bị hại không thể trông giữ tài sản của mình một cách hiệu quả.
- Hậu quả: Hậu quả của tội phạm là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật. Người phạm tội không dùng sức mạnh hay đe dọa để tạo ra sự bất lực, mà chỉ đơn thuần lợi dụng sự bất lực đó để chiếm đoạt. Đây là yếu tố cốt lõi phân biệt tội công nhiên chiếm đoạt với các tội danh có yếu tố bạo lực khác.

Nhìn chung, khách thể và chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản bao gồm những đối tượng trên.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tìm hiểu các quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là vấn đề được nhiều người quan tâm. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, khởi tố và giải quyết các vụ án liên quan đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?
Theo khoản 2, 3 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định như sau:
- Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
- Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
- Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
- Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
- Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
- Đồng thời tại Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2021, khoản 56 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025 quy định Công an cấp xã, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Có thể thấy, cơ quan nêu trên có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, khởi tố và giải quyết các vụ án liên quan đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
2. Trình tự, thủ tục nộp đơn tố cáo hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tại cơ quan điều tra diễn ra như thế nào?
Theo Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2025) trình tự, thủ tục nộp đơn tố cáo hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tại cơ quan điều tra diễn ra như sau:
- Làm đơn trình báo, chuẩn bị chứng cứ:
- Đơn tố giác/tố cáo: Trình bày rõ thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, thông tin nhân thân người bị tố cáo, mô tả chi tiết hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản (lợi dụng sơ hở để lấy tài sản công khai, không giấu giếm nhưng người quản lý tài sản không thể ngăn cản kịp thời) và yêu cầu bồi thường.
- Chứng cứ kèm theo: Thu thập các tài liệu chứng minh quyền sở hữu tài sản, hình ảnh, video camera ghi lại sự việc, băng ghi âm, hoặc danh sách người làm chứng (nếu có).
- Giấy tờ tùy thân: Bản sao công chứng Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu của người tố cáo.
- Nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền:
- Người tố cáo nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền theo trình bày tại Mục III.1 nêu trên.
- Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.
- Thời hạn giải quyết:
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
- Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
- Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng.
Do đó, trình tự, thủ tục nộp đơn tố cáo hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tại cơ quan điều tra diễn ra như trên.
3. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự của người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được pháp luật quy định ra sao?
- Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP quy định người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
- Và tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015 quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại là thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Theo đó, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự của người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:
- Trách nhiệm hoàn trả tài sản công nhiêm chiếm đoạt:
- Người phạm tội bắt buộc phải trả lại nguyên vẹn tài sản đã công nhiên chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.
- Trường hợp tài sản đã bị mất, bị tiêu tán, hủy hoại hoặc không thể thu hồi: Người phạm tội phải bồi thường. Mức bồi thường sẽ do các bên thỏa thuận hoặc do cơ quan có thẩm quyền quyết định dựa theo giá thị trường của tài sản đó tại thời điểm giải quyết vụ án.
- Các khoản thiệt hại khác do hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản gây ra:
Theo Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
- Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng: Theo hướng dẫn bởi khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP thì:
a) Trường hợp tài sản là vật thì xác định thiệt hại đối với tài sản bị mất, bị hủy hoại căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại tại thời điểm giải quyết bồi thường.
- Đối với tài sản là tiền thì thiệt hại được xác định là số tiền bị mất, bị hư hỏng.
- Đối với giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà không thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là giá trị của các giấy tờ bị mất, bị hư hỏng tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trường hợp giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà có thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là các chi phí cần thiết để khôi phục các giấy tờ đó.
b) Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để xác định thiệt hại.
- Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút: Theo hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP là hoa lợi, lợi tức mà người bị thiệt hại đang hoặc sẽ thu được nếu tài sản không bị mất, bị hư hỏng. Hoa lợi, lợi tức được tính theo giá thực tế đang thu, nếu chưa thu thì theo giá thị trường cùng loại hoặc mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, hoa lợi, lợi tức được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.
- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại: Theo được hướng dẫn bởi khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP là những chi phí thực tế, cần thiết tại thời điểm chi trong điều kiện bình thường cho việc áp dụng các biện pháp cần thiết làm cho thiệt hại không phát sinh thêm; sửa chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản bị xâm phạm.
- Thiệt hại khác do luật quy định.

Có thể thấy, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự của người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được pháp luật quy định như trên.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Để hiểu rõ hơn các quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là bao lâu kể từ ngày hành vi xảy ra?
- Căn cứ tại Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Theo khoản 2, 3 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản kể từ ngày hành vi xảy ra dựa vào khung hình phạt, cụ thể:
- 5 năm: Áp dụng cho khung hình phạt cơ bản, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025).
- 10 năm: Áp dụng cho khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm tại khoản 2 Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025).
- 15 năm: Áp dụng cho khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm tại khoản 3 Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025).
- 20 năm: Áp dụng cho khung phạt tù từ 12 năm đến 20 năm tại khoản 4 Điều 172 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025).
- Ngoài ra, nếu trong thời hạn quy định trên, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Hoặc người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.
Theo đó, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản kể từ ngày hành vi xảy ra theo quy định trên.
2. Những tình tiết nào được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?
Theo Điều 51, 52 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) các tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản gồm:
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội sẽ được xem xét giảm nhẹ nếu có các tình tiết như:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Người phạm tội sẽ bị xem là tăng nặng nếu có các tình tiết như:
- Phạm tội có tổ chức;
- Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
- Phạm tội có tính chất côn đồ;
- Phạm tội vì động cơ đê hèn;
- Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
- Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội;
- Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
- Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
Dựa vào căn cứ này, những tình tiết nêu trên được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
3. Người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi công khai lấy tài sản của người khác thì có bị xử lý về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không? Vì sao?
Có thể. Căn cứ Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên. Theo đó, người phạm tội phải đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Về năng lực trách nhiệm hình sự: Người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự phải có năng lực trách nhiệm hình sự.
Vậy, người dưới 18 tuổi, cụ thể là từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, mà thực hiện hành vi công khai lấy tài sản của người khác thì sẽ bị xử lý về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
4. Trường hợp gặp tai nạn giao thông trên đường, người dân xung quanh lao vào nhặt hàng hóa rơi vãi trước mặt tài xế thì có cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không? Tại sao?
- Trường hợp gặp tai nạn giao thông trên đường, người dân xung quanh lao vào nhặt hàng hóa rơi vãi trước mặt tài xế có thể cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
- Yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 172 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bởi điểm a, điểm c khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 gồm:
- Tính công khai, ngang nhiên: Người lấy tài sản thực hiện hành vi một cách lộ liễu, công khai ngay trước mặt tài xế mà không hề che giấu, lén lút.
- Chủ tài sản không có khả năng ngăn cản: Người dân lao vào nhặt đồ dựa trên việc lợi dụng hoàn cảnh khách quan (vụ tai nạn giao thông). Lúc này, tài xế có thể đang bị thương, bị hoảng loạn, hoặc số lượng người lao vào quá đông khiến tài xế không có điều kiện hoặc không đủ khả năng bảo vệ, giữ gìn tài sản của mình.
Do đó, khi gặp tai nạn giao thông trên đường, người dân xung quanh lao vào nhặt hàng hóa rơi vãi trước mặt tài xế thì có thể cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
5. Nếu người phạm tội đã tiêu tán hết đồ đã lấy, thủ tục kê biên tài sản để thi hành án trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản diễn ra ra sao?
- Theo Điều 128, 129 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2017, 2025) thì khi người phạm tội đã tiêu tán hết đồ đã lấy, cơ quan chức năng sẽ tiến hành thủ tục kê biên các tài sản hợp pháp khác của người phạm tội hoặc người bị hại có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu các giao dịch tẩu tán tài sản trái pháp luật để thu hồi tài sản khắc phục hậu quả theo Điều 132 Bộ luật dân sự 2015.
- Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người sau đây:
- Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
- Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bị kê biên;
- Người chứng kiến.
- Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản phải được đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Nếu có ý kiến, khiếu nại liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
- Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định trên sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho Ủy ban nhân dân cùng cấp nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Kết luận lại, nếu người phạm tội đã tiêu tán hết đồ đã lấy, thủ tục kê biên tài sản để thi hành án trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản diễn ra như trên.
V. Bạn cần một giải pháp pháp lý nhanh chóng, bảo mật và chính xác tuyệt đối về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, hãy nhanh kết nối với hotline của NPLaw ngay hôm nay?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.