Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet trong giai đoạn hiện nay đang ngày càng xảy ra phổ biến và không ngừng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Vậy pháp luật quy định biện pháp xử lý như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!

I. Thực trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet trong giai đoạn hiện nay

Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet diễn ra ngày càng phổ biến và tinh vi. Các hành vi vi phạm có thể thấy ở nhiều lĩnh vực, từ việc sao chép, chia sẻ trái phép sách, báo, phim, nhạc cho đến việc sử dụng phần mềm lậu, phát sóng trực tiếp bóng đá không có bản quyền, hay bán hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử. Không chỉ dừng lại ở bản quyền tác phẩm, nhiều trường hợp còn lợi dụng Internet để xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như đăng ký, sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng nhằm trục lợi. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc ý thức của một bộ phận người dùng còn hạn chế, công nghệ số phát triển quá nhanh so với khả năng kiểm soát, trong khi chế tài xử lý đôi khi chưa đủ sức răn đe.

Thực trạng này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho tác giả, doanh nghiệp mà còn làm giảm động lực sáng tạo, ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh và uy tín của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

1. Định nghĩa về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet?

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng theo khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet là hành vi xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của các cá nhân hoặc tổ chức sở hữu các tài sản trí tuệ như quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp trên không gian mạng.

2. Phân loại vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet bao gồm các vi phạm về: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

  • Vi phạm quyền tác giả bao gồm các vi phạm liên quan đến tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học theo khoản 1 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.
  • Vi phạm quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm các vi phạm về cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá theo khoản 1 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.
  • Vi phạm quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các vi phạm liên quan về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý theo khoản 2 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.

II. Quy định pháp lý liên quan vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

1. Ảnh hưởng của vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet gây ra nhiều ảnh hưởng bao gồm thiệt hại về vật chất và tinh thần theo Điều 204 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009.

Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại;

Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.

Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến xã hội: làm thất thu ngân sách nhà nước, gây thất thu thuế, và nhà nước phải chi thêm ngân sách cho việc kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm; Ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh; làm giảm tính cạnh tranh lành mạnh, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và phát triển kinh tế, gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật:

2. Quy định liên quan vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

Có nhiều hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

Theo Điều 28 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 những hành vi xâm phạm quyền tác giả trên Internet, gồm:

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
  • Mạo danh tác giả.
  • Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả.
  • Công bố, phân phối tác phẩm có đồng tác giả mà không được phép của đồng tác giả đó.
  • Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân hoặc sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu được quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này.
  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 của Luật này.
  • Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật này.
  • Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kỹ thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Cố ý huỷ bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
  • Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm.
  • Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.
  • Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
  • Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.

Theo Điều 126 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, hành vi bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí:

  • Sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu;
  • Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời.

Theo Điều 129 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

  • Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó;
  • Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
  • Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
  • Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:

  • Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm mặc dù có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý, nhưng sản phẩm đó không đáp ứng các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý;
  • Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm tương tự với sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nhằm mục đích lợi dụng danh tiếng, uy tín của chỉ dẫn địa lý;
  • Sử dụng bất kỳ dấu hiệu nào trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cho sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó làm cho người tiêu dùng hiểu sai rằng sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó;
  • Sử dụng chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với rượu vang, rượu mạnh cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó, kể cả trường hợp có nêu chỉ dẫn về nguồn gốc xuất xứ thật của hàng hoá hoặc chỉ dẫn địa lý được sử dụng dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm hoặc được sử dụng kèm theo các từ loại, kiểu, dạng, phỏng theo hoặc những từ tương tự như vậy.

3. Các điều kiện liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

Điều kiện liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet như sau:

Hành vi bị xem xét bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP khi có đủ các căn cứ sau đây:

  • Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
  • Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
  • Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định pháp luật.
  • Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam.

Lưu ý: Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.

Căn cứ Điều 6, Điều 15 Nghị định 105/2006/NĐ-CP căn cứ xác định đối tượng được bảo hộ; tính chất và mức độ xâm phạm được quy định như sau:

Căn cứ xác định đối tượng được bảo hộ:

  • Việc xác định đối tượng được bảo hộ được thực hiện bằng cách xem xét các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh, xác lập quyền theo quy định.
  • Đối với các loại quyền sở hữu trí tuệ đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, đối tượng được bảo hộ được xác định theo giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ và các tài liệu kèm theo giấy chứng nhận đăng ký, văn bằng bảo hộ đó.
  • Đối với quyền tác giả, quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng không đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì các quyền này được xác định trên cơ sở bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan (nếu có).
  • Trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên của cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan không còn tồn tại, quyền tác giả, quyền của người biểu diễn, quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, quyền của tổ chức phát sóng được xem là có thực trên cơ sở các thông tin về tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng và về đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan tương ứng, được thể hiện thông thường trên các bản sao được công bố hợp pháp.
  • Đối với tên thương mại, đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở quá trình sử dụng, lĩnh vực và lãnh thổ sử dụng tên thương mại đó.
  • Đối với bí mật kinh doanh, đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở các tài liệu thể hiện nội dung, bản chất của bí mật kinh doanh và thuyết minh, mô tả về biện pháp bảo mật tương ứng.
  • Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thể hiện sự nổi tiếng của nhãn hiệu theo các tiêu chí quy định.

Căn cứ xác định tính chất và mức độ xâm phạm:

Tính chất xâm phạm được xác định dựa trên các căn cứ sau đây:

  • Hoàn cảnh, động cơ xâm phạm: xâm phạm do vô ý, xâm phạm cố ý, xâm phạm do bị khống chế hoặc bị lệ thuộc, xâm phạm lần đầu, tái phạm;
  • Cách thức thực hiện hành vi xâm phạm: xâm phạm riêng lẻ, xâm phạm có tổ chức, tự thực hiện hành vi xâm phạm, mua chuộc, lừa dối, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi xâm phạm.

Mức độ xâm phạm được xác định dựa trên các căn cứ sau đây:

  • Phạm vi lãnh thổ, thời gian, khối lượng, quy mô thực hiện hành vi xâm phạm;
  • Ảnh hưởng, hậu quả của hành vi xâm phạm.

4. Giải pháp để xử lý liên quan vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

Để xử lý các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, có thể áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm.

Theo Điều 202 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009, giải pháp xử lý bằng biện pháp dân sự như sau:

  • Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
  • Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
  • Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
  • Buộc bồi thường thiệt hại;
  • Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Giải pháp xử lý bằng biện pháp hành chính như: phạt tiền, buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại, buộc tiêu hủy, tịch thu tùy theo mức độ vi phạm được quy định tại Điều 211 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 và Chương 4 Nghị định 105/2006/NĐ-CP.

Giải pháp xử lý bằng biện pháp hình sự khi cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 211 Luật sở Hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bởi Khoản 79 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022.

III. Các vấn đề thắc mắc liên quan vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet

1. Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý nào?

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý Điều 199 Luật sở Hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

  • Người có hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, ­­có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự.
  • Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Doanh nghiệp cần thực hiện những bước gì để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên Internet?

Theo quy định tại Điều 9 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác.

Để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên Internet, doanh nghiệp cần thực hiện như sau:

  • Đăng ký quyền tác giả: Các phần mềm, giao diện website, và nội dung số có thể được đăng ký quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả để được pháp luật bảo hộ.
  • Đăng ký nhãn hiệu: Các tên thương hiệu, logo, hoặc biểu tượng của sản phẩm cần được đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ. Điều này giúp đảm bảo không bị sao chép hoặc sử dụng trái phép.
  • Đăng ký sáng chế hoặc giải pháp hữu ích: Nếu sản phẩm bao gồm công nghệ mới, việc đăng ký sáng chế hoặc giải pháp hữu ích tại Cục Sở hữu trí tuệ sẽ mang lại sự bảo vệ pháp lý quan trọng.
  • Ký kết thỏa thuận bảo mật và không tiết lộ thông tin: Khi làm việc với đối tác, nhà phát triển hoặc nhân viên, doanh nghiệp cần có các thỏa thuận rõ ràng về việc bảo mật thông tin để tránh rò rỉ hoặc sao chép sản phẩm.
  • Giám sát và xử lý vi phạm: Doanh nghiệp cần thường xuyên giám sát thị trường, phát hiện các vi phạm và xử lý thông qua các biện pháp pháp lý hoặc đàm phán giải quyết.

3. Những tổ chức nào có thể giúp doanh nghiệp trong việc theo dõi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên Internet?

Trong trường hợp cần thiết, doanh nghiệp có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ luật sư, chuyên gia sở hữu trí tuệ hoặc các cơ quan chuyên trách để được tư vấn và hỗ trợ trong việc bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ.

Các công ty công nghệ: Một số công ty công nghệ chuyên về giải pháp bảo vệ bản quyền, cung cấp các công cụ tự động giám sát, cảnh báo vi phạm và hỗ trợ khiếu nại. Những công cụ này có thể giúp doanh nghiệp theo dõi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên nhiều nền tảng trực tuyến khác nhau.

Các tổ chức tư vấn pháp lý: Các công ty luật, tổ chức tư vấn chuyên về sở hữu trí tuệ có thể cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đăng ký bảo hộ, theo dõi và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Có thể giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược bảo vệ, xử lý các vi phạm và đại diện cho doanh nghiệp trong các tranh chấp. 

Cơ quan có thẩm quyền quản lý về sở hữu trí tuệ : Các cơ quan như Cục Sở hữu trí tuệ, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an, Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

4. Những khó khăn nào mà doanh nghiệp gặp phải khi xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet?

Các doanh nghiệp đối mặt với nhiều khó khăn khi xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet, bao gồm khó khăn trong việc xác định và chứng minh vi phạm, tốc độ lan truyền nhanh chóng của thông tin trên mạng, sự phức tạp của các nền tảng trực tuyến và chi phí, thời gian cho việc xử lý các vụ việc. 

5. Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet có thể dẫn đến tranh chấp giữa các doanh nghiệp không? Và ai là người có thể giải quyết tranh chấp đó?

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet có thể dẫn đến tranh chấp giữa các doanh nghiệp. Theo khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp liên quan đến sở hữu trí tuệ. Đối với các tranh chấp về sở hữu công nghiệp và tranh chấp thương mại liên quan đến sở hữu công nghiệp thì Cục Sở hữu trí tuệ cũng có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 13 Điều 2 Quyết định 156/QĐ-BKHCN 2025.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn liên quan đến vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet?

Việc tìm luật sư tư vấn về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet là rất quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể bị xâm phạm. Luật sư là người có chuyên môn sẽ tư vấn và giúp cá nhân, tổ chức hiểu rõ các quy định pháp luật, đánh giá tình hình vi phạm, tư vấn các biện pháp bảo vệ và đại diện bạn trong các thủ tục pháp lý cần thiết. 

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên Internet mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.