Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, dữ liệu cá nhân ngày càng trở thành một loại “tài sản” có giá trị thương mại lớn. Tuy nhiên, việc dữ liệu khách hàng bị thu thập, mua bán trái phép đang diễn ra ngày càng phổ biến, kéo theo hệ quả là nhiều khách hàng nhận được quảng cáo từ các bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán.Vậy pháp luật quy định thế nào trong trường hợp này? Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của NPLaw nhé.

I. Thực trạng liên quan đến khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán

Trong bối cảnh số hóa ngày càng phát triển, vấn đề rò rỉ và bán dữ liệu cá nhân đã trở thành mối đe dọa lớn đối với quyền riêng tư của cá nhân. Thực tế cho thấy, nhiều khách hàng sau khi đăng ký sử dụng dịch vụ, mua hàng trực tuyến hoặc tham gia các chương trình khuyến mại đã liên tục nhận được cuộc gọi, tin nhắn, email quảng cáo từ các tổ chức, cá nhân không quen biết. Trong nhiều trường hợp, dữ liệu cá nhân của khách hàng đã bị bán hoặc chia sẻ trái phép cho nhiều bên thứ ba trái phép, khiến khách hàng thường xuyên bị làm phiền, gây ảnh hưởng đến cuộc sống, quyền lợi hợp pháp của khách hàng.

II. Khái niệm về khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán

Để làm rõ bản chất pháp lý của vấn đề, cần hiểu đúng khái niệm và các biểu hiện phổ biến của hành vi này.

1. Khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán là gì?

Khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012, được sửa đổi bởi Điểm a Khoản 1 Điều 1 Luật Quảng cáo sửa đổi 2025 quy định: “Quảng cáo là việc sử dụng người, phương tiện nhằm giới thiệu đến người tiếp nhận quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ”.

Khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán được hiểu là trường hợp thông tin cá nhân của khách hàng (như số điện thoại, email, thông tin định danh cá nhân…) bị tổ chức, cá nhân thu thập và chuyển giao cho bên khác không có sự đồng ý hợp pháp của khách hàng, dẫn đến việc khách hàng bị tiếp cận quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không mong muốn.

2. Khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba thường xuất hiện dưới những hình thức nào?

Trên thực tế, khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba thường xuất hiện dưới những hình thức phổ biến gồm:

  • Cuộc gọi tiếp thị qua điện thoại.
  • Tin nhắn SMS quảng cáo.
  • Email marketing, quảng cáo 
  • Tin nhắn quảng cáo trên mạng xã hội hoặc nền tảng trực tuyến.

Một số trường hợp có thể bị quảng cáo, làm phiền liên tục thông qua nhiều hình thức khác nhau, gây ảnh hưởng đến đời sống cá nhân và công việc của khách hàng.

3. Những loại dữ liệu nào của khách hàng thường bị sử dụng để gửi quảng cáo từ bên thứ ba?

Trên thực tế, các bên thứ ba thường khai thác nhiều loại dữ liệu cá nhân của khách hàng để phục vụ hoạt động quảng cáo, phổ biến nhất hiện nay gồm: họ tên, số điện thoại, địa chỉ email và địa chỉ liên hệ.

Ngoài ra, các thông tin phản ánh hành vi và thói quen tiêu dùng như lịch sử mua sắm, nhu cầu sử dụng dịch vụ, tần suất giao dịch cũng thường bị sử dụng để cá nhân hóa nội dung quảng cáo.

Những thông tin này khi bị thu thập, mua bán trái phép, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm nghiêm trọng đến quyền riêng tư và lợi ích hợp pháp của khách hàng.

III. Quy định của pháp luật liên quan đến khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán

Pháp luật Việt Nam đã xây dựng khung pháp lý khá chặt chẽ, để bảo vệ cá nhân khỏi việc dữ liệu bị bán dẫn đến quảng cáo từ bên thứ ba.

1. Khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán có được pháp luật Việt Nam bảo vệ không?

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã có các quy định để bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong trường hợp nhận được quảng cáo từ bên thứ ba khi dữ liệu cá nhân bị bán hoặc chia sẻ trái phép.

Theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác là hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 5 Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng 2015. Ngoài ra, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) quy định nghiêm cấm việc mua bán dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác (khoản 6 Điều 7). Khách hàng là chủ thể dữ liệu có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định (điểm đ khoản 1 Điều 4).

Do đó, trường hợp không có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc pháp luật có quy định khác, hành vi này được xem là vi phạm pháp luật và khách hàng có quyền yêu cầu chấm dứt, khiếu nại, yêu cầu bồi thường theo quy định.

2. Trường hợp dữ liệu bị bán cho nhiều bên, quyền yêu cầu ngừng quảng cáo được thực hiện thế nào?

Theo khoản 5 Điều 28 Luật Bảo vệ dữ liệu 2025: “Chủ thể dữ liệu cá nhân có quyền yêu cầu ngừng nhận thông tin từ dịch vụ quảng cáo. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải cung cấp cơ chế và ngừng quảng cáo theo yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân”.

Theo đó, trường hợp dữ liệu bị bán cho nhiều bên, quảng cáo gây ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của mình, chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu ngừng nhận thông tin từ dịch vụ quảng cáo theo quy định trên. 

3. Pháp luật quy định thời hạn xử lý khiếu nại của khách hàng về dữ liệu bị bán là bao lâu?

Theo khoản 9, 10 Điều 9 Nghị định 13/2023/NĐ-CP, điểm đ khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, chủ thể dữ liệu có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định một thời hạn cụ thể, thống nhất áp dụng riêng cho việc giải quyết khiếu nại liên quan đến dữ liệu cá nhân bị bán cho bên thứ ba hoặc bị sử dụng để gửi quảng cáo. Thời gian xử lý sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ phức tạp của vụ việc, sự hợp tác của các bên, phản hồi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan...

Khi giải quyết khiếu nại, người khiếu nại cần chủ động làm việc với đơn vị liên quan, phối hợp cung cấp các thông tin, tài liệu có liên quan và thường xuyên theo dõi tiến trình xử lý.

4. Pháp luật có chế tài cụ thể nào đối với việc tái bán dữ liệu cá nhân nhiều lần không?

Về xử phạt hành chính:

  • Điểm c khoản 2 Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 30 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP): phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác.
  • Điểm a khoản 7, khoản 8, khoản 9 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi mua bán hoặc trao đổi trái phép thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông.

Về truy cứu trách nhiệm hình sự:

  • Theo điểm b khoản 1 Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông: người nào thực hiện hành vi mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó, mà thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây dư luận xấu làm giảm uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Về bồi thường thiệt hại:

  • Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, người nào có hành vi bán dữ liệu cá nhân nhiều lần, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

Như vậy, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, người bán dữ liệu cá nhân của người khác nhiều lần có thể bị xử phạt theo quy định trên.

IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán

Dưới đây là giải đáp một số thắc mắc phổ biến từ khách hàng khi gặp phải tình trạng nhận quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán theo pháp luật hiện hành.

1. Làm thế nào để khách hàng chủ động bảo vệ dữ liệu cá nhân khỏi bị bán trong tương lai?

Khách hàng có thể thực hiện các biện pháp chủ động sau để bảo vệ dữ liệu cá nhân khỏi bị rò rỉ, đánh cắp hoặc bán trái phép:

  • Hạn chế chia sẻ dữ liệu cá nhân không cần thiết khi đăng ký dịch vụ trực tuyến, chỉ cung cấp thông tin khi thực sự cần thiết.
  • Áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo mật như sử dụng VPN để ẩn địa chỉ IP, tạo mật khẩu mạnh kết hợp xác thực hai yếu tố (2FA), và tránh sử dụng mạng Wi-Fi công cộng để giảm rủi ro dữ liệu bị đánh cắp.
  • Thường xuyên kiểm tra chính sách bảo mật của các nền tảng, rút đồng ý xử lý dữ liệu cá nhân nếu không cần thiết, và yêu cầu truy cập, chỉnh sửa hoặc xóa dữ liệu theo quyền của chủ thể dữ liệu.
  • Báo cáo ngay lập tức các vi phạm (như rò rỉ hoặc bán dữ liệu) đến Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý.

Những biện pháp nêu trên góp phần bảo vệ dữ liệu cá nhân của khách hàng không bị bán trái phép trong tương lai.

2. Bên thứ ba gửi quảng cáo dựa trên dữ liệu mua được có bị coi là xâm phạm quyền riêng tư không?

Theo Điều 21 Hiến pháp 2013, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình. Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác.

Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 13/2023/NĐ-CP: “Dữ liệu cá nhân chỉ được xử lý đúng với mục đích đã được Bên Kiểm soát dữ liệu cá nhân, Bên Xử lý dữ liệu cá nhân, Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, Bên thứ ba đăng ký, tuyên bố về xử lý dữ liệu cá nhân”.

Hành vi của bên thứ ba gửi quảng cáo dựa trên dữ liệu cá nhân mua được mà không có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu hoặc các bên có quyền theo quy định trên, thì được coi là xâm phạm quyền riêng tư đối với dữ liệu cá nhân.

3. Có cách nào để yêu cầu bên thứ ba xóa toàn bộ dữ liệu cá nhân của khách hàng không?

Theo khoản 5 Điều 9 nghị định 13/2023/NĐ-CP, chủ thể dữ liệu có quyền xóa hoặc yêu cầu xóa dữ liệu cá nhân của mình, trừ trường hợp luật có quy định khác. Ngoài việc gửi yêu cầu trực tiếp, khách hàng có thể áp dụng thêm một số cách thức khác để bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của mình như:

  • Gửi yêu cầu trực tiếp bằng văn bản hoặc điện tử đến bên thứ ba yêu cầu xóa dữ liệu.
  • Gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền (ví dụ: Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao) yêu cầu can thiệp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
  • Ủy quyền cho luật sư tham gia giải quyết vụ việc.

Do đó, khách hàng là chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu bên thứ ba xóa toàn bộ dữ liệu cá nhân hoặc thực hiện các cách nêu trên để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

4. Khách hàng có quyền yêu cầu ngừng nhận quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán không?

Theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Luật Bảo vệ dữ liệu 2025 quy định, chủ thể dữ liệu cá nhân có quyền yêu cầu ngừng nhận thông tin từ dịch vụ quảng cáo. Khách hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu ngừng nhận quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán.

Khi đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo phải cung cấp cơ chế và ngừng quảng cáo theo yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân.

5. Có công cụ nào giúp khách hàng theo dõi việc dữ liệu cá nhân bị sử dụng cho quảng cáo không?

Hiện nay, người dùng có thể chủ động kiểm soát và theo dõi dữ liệu cá nhân thông qua các công cụ quản lý quyền riêng tư do từng nền tảng cung cấp (ví dụ: quản lý quảng cáo, thiết lập theo dõi dữ liệu, cho phép hoặc từ chối cá nhân hóa quảng cáo).

Ngoài ra, người dùng hoàn toàn có quyền yêu cầu minh bạch thông tin và đề nghị các đơn vị liên quan khi thu thập thông tin dữ liệu cá nhân cho biết mục đích thu thập, phạm vi xử lý và bên thứ ba đang tiếp cận dữ liệu đây là quyền được pháp luật bảo vệ.

Các công cụ này giúp ngăn chặn việc bị rò rỉ, đánh cắp thông tin dữ liệu cá nhân trên mạng xã hội, hỗ trợ bảo vệ quyền dữ liệu cá nhân.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về khách hàng nhận được quảng cáo từ bên thứ ba sau khi dữ liệu bị bán

Các vấn đề liên quan đến dữ liệu cá nhân và quảng cáo trái phép thường phức tạp, khó xác định trách nhiệm và chủ thể vi phạm. Việc có luật sư tư vấn chuyên sâu sẽ giúp khách hàng đánh giá đúng tình trạng pháp lý, lựa chọn biện pháp bảo vệ phù hợp và yêu cầu xử lý vi phạm một cách hiệu quả.

Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn và hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.