Bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ là trường hợp khá phổ biến trong doanh nghiệp. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng liên quan đến bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ
Việc công ty bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ lao động là hành vi trái quy định pháp luật, tuy nhiên vẫn được diễn ra phổ biến do sự thiếu hiểu biết của người lao động và sự trốn tránh trách nhiệm của doanh nghiệp. Theo quy định pháp luật, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trang cấp đầy đủ, miễn phí đồ bảo hộ cho người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, độc hại. Do đó việc hiểu rõ và nắm các quy định liên quan đến lao động giúp người lao động bảo vệ tốt quyền lợi của mình.
II. Khái niệm về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ
Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ là gì?
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH quy định phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang cấp để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết.
Theo khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc.

Như vậy, bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ là hành vi vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động, theo đó người sử dụng lao động có trách nhiệm trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc cho người lao động khi họ làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, có hại.
2. Những loại trang bị bảo hộ nào thường bị yêu cầu tự mua?
Trong hầu hết các môi trường làm việc chuyên nghiệp, người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp trang bị bảo hộ lao động. Tuy nhiên, thực tế vẫn có một số loại đồ dùng cá nhân mà người lao động thường được yêu cầu tự trang bị gồm:
- Thiết bị bảo vệ hô hấp, vệ sinh: Khẩu trang, mặt nạ thông thường.
- Thiết bị bảo vệ tay chân: Găng tay vải bạt, găng tay chống cắt nhẹ, ủng cao su, giày đi rừng, tất chống vắt.
- Quần áo, mũ: Quần áo bảo hộ lao động thông thường, mũ, nón chống mưa nắng.
- Thiết bị cá nhân khác: Kính bảo hộ chống bụi, yếm che.
Lưu ý: Các thiết bị bảo hộ lao động bắt buộc cho các môi trường nguy hiểm (như quần áo chống hóa chất, găng tay cách điện, mặt nạ chuyên dụng) là trách nhiệm trang cấp của người sử dụng lao động theo khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
Qua phân tích trên, các loại trang bị bảo hộ lao động thường bị yêu cầu tự mua (hoặc tự trang bị) thường là các vật dụng mang tính cá nhân cao, dễ hao mòn hoặc các trang thiết bị thông dụng, nhỏ nhẹ như khẩu trang, găng tay vải bạt, giày đi rừng, mũ che nắng, và quần áo bảo hộ phổ thông. Các vật dụng này chủ yếu phục vụ nhu cầu vệ sinh và thoải mái cá nhân hàng ngày.
3. Vì sao một số doanh nghiệp yêu cầu nhân viên tự mua đồ bảo hộ?
Việc doanh nghiệp yêu cầu nhân viên tự mua đồ bảo hộ lao động (BHLĐ) thường xuất phát từ một số lý do thực tế và quản trị sau đây:
- Đặc thù công việc: Trong các ngành như xây dựng hoặc cơ khí, nhiều người làm việc dưới dạng cộng tác viên hoặc nhà thầu phụ. Khi đó, họ được coi là đối tác độc lập và tự chịu trách nhiệm về thiết bị cá nhân.
- Yêu cầu cá nhân hóa: Một số nhân viên muốn sử dụng đồ bảo hộ có chất lượng cao hơn, thương hiệu tốt hơn hoặc vừa vặn hơn so với loại tiêu chuẩn mà công ty cấp phát đại trà.
- Tránh lãng phí và mất mát: Một số doanh nghiệp áp dụng hình thức "đặt cọc" hoặc yêu cầu tự mua trước (sau đó hoàn tiền) để nhân viên có ý thức giữ gìn đồ dùng, tránh tình trạng làm mất hoặc làm hỏng do bất cẩn.
Tuy nhiên, người lao động nên lưu ý, việc trang bị bảo hộ là trách nhiệm và nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 và bắt buộc để đảm bảo an toàn, sức khỏe và tính mạng cho người lao động. Doanh nghiệp cần chịu trách nhiệm đảm bảo thiết bị bảo hộ đạt tiêu chuẩn và kiểm tra định kỳ.

Tóm lại, một số doanh nghiệp yêu cầu nhân viên tự mua đồ bảo hộ vì xét trên sự tiện lợi cho cá nhân, một số doanh nghiệp cho rằng người lao động tự mua sẽ lựa chọn được kích cỡ, kiểu dáng phù hợp và thoải mái nhất với nhu cầu sử dụng. Tuy nhiên nếu người lao động không đồng ý theo đề nghị tự mua đồ bảo hộ thì họ có quyền yêu cầu người sử dụng lao động phải trang cấp.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ
Tìm hiểu các quy định về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Doanh nghiệp có bắt buộc phải cung cấp đồ bảo hộ cho nhân viên theo pháp luật không?
Theo Điều 22 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
- Nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được phân loại căn cứ vào đặc điểm, điều kiện lao động đặc trưng của mỗi nghề, công việc.
- Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sau khi có ý kiến của Bộ Y tế; quy định tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động.
- Người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật.
Và theo khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc.
Theo Điều 4 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH, điều kiện được trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân
Làm việc tiếp xúc với một trong những yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại dưới đây thì được trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân:
- Tiếp xúc với yếu tố vật lý không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.
- Tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại.
- Tiếp xúc với yếu tố sinh học độc hại:
a) Vi rút, vi khuẩn độc hại gây bệnh, côn trùng có hại;
b) Phân, nước thải, rác, cống rãnh;
c) Các yếu tố sinh học độc hại khác.
- Làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động tiềm ẩn các mối nguy mất an toàn, vệ sinh lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; làm việc trên cao; làm việc trong hầm lò, nơi thiếu dưỡng khí; làm việc trên biển, trên sông nước, trong hầm sâu, trong không gian hạn chế, trong rừng; làm việc trong núi đá, hang đá hoặc điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại khác.

Như vậy, doanh nghiệp bắt buộc phải cung cấp đồ bảo hộ cho nhân viên theo pháp luật khi người lao động làm công việc thuộc nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đáp ứng các điều kiện được trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân thì sẽ phải trang bị đồ bảo hộ cho người lao động.
2. Quy định về chất lượng, tiêu chuẩn đồ bảo hộ mà doanh nghiệp phải đảm bảo
Theo khoản 3 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
b) Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương tiện bảo vệ cá nhân;
c) Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân;
d) Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ.
- Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH, các phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định khác của pháp luật lao động và pháp luật chuyên ngành (nếu có).
Các Quy chuẩn và Tiêu chuẩn phổ biến có thể kể đến như:
- QCVN 37:2019/BLĐTBXH: Quy chuẩn quốc gia về quần áo bảo vệ chống nhiệt và lửa.
- TCVN 6407-1998: Tiêu chuẩn về mũ an toàn trong công nghiệp.
- TCVN 6409-1998 & TCVN 6410:1998: Yêu cầu kỹ thuật cho giày, ủng cao su chống tĩnh điện, dẫn điện.
- TCVN 6412-90: Tiêu chuẩn về giày ủng chuyên dụng, xác định khả năng chống trượt.
- TCVN 6692-00: Quy định về găng tay bảo hộ lao động (da, giả da, bạt).
- TCVN 4742:1989: Tiêu chuẩn kỹ thuật quần áo bảo hộ cho công nhân cao su.
Nhìn chung, quy định về chất lượng, tiêu chuẩn đồ bảo hộ mà doanh nghiệp phải đảm bảo được thực hiện theo tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và các quy định khác của pháp luật lao động và pháp luật chuyên ngành.
3. Trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp khi nhân viên bị tai nạn do không có đồ bảo hộ
Theo khoản 4, 5 Điều 38 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 được hướng dẫn bởi Điều 3 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH, người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường đối với người lao động bị tai nạn lao động do không có đồ bảo hộ như sau:
- Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra với mức sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng (Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH).
Theo đó, trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp khi nhân viên bị tai nạn do không có đồ bảo hộ được thực hiện như trên.
4. Có quy định về việc hỗ trợ chi phí mua đồ bảo hộ nếu nhân viên tự mua không?
Theo khoản 6 Điều 5 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH quy định người lao động không phải trả tiền về việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và có quyền yêu cầu người sử dụng lao động bổ sung mới hoặc thay đổi loại phương tiện bảo vệ cá nhân cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Do đó, nếu nhân viên tự mua đồ bảo hộ thì có quyền yêu cầu doanh nghiệp hoàn trả lại số tiền đã sử dụng để mua đồ bảo hộ.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ
Để hiểu rõ hơn các quy định về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Nhân viên có quyền từ chối mua đồ bảo hộ nếu doanh nghiệp không cung cấp không?
Theo điểm d khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động 2019, người lao động có quyền từ chối làm việc nếu có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe trong quá trình thực hiện công việc.
Đồng thời khi người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, người sử dụng lao động có trách nhiệm trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc theo khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
Qua quy định trên, thì trách nhiệm cung cấp trang thiết bị bảo hộ thuộc về người sử dụng lao động nên nhân viên có quyền từ chối mua đồ bảo hộ nếu doanh nghiệp không cung cấp.
2. Doanh nghiệp bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ có vi phạm luật lao động không?
- Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc theo điểm d khoản 2 Điều 6 Bộ luật lao động 2019. Và người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc tại khoản 1 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
- Theo khoản 8 Điều 22 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm quy định về phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không trang cấp hoặc trang cấp không đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân hoặc có trang cấp nhưng không đạt chất lượng theo quy định; không thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật hoặc bồi dưỡng bằng hiện vật thấp hơn mức theo quy định; trả tiền thay cho bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại theo một trong các mức sau đây:
- Từ 3.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Vậy, doanh nghiệp bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính như trên.
3. Người lao động làm việc bán thời gian hoặc thời vụ có phải tự mua đồ bảo hộ không?
Theo khoản 3 Điều 22 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 4 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH quy định điều kiện được trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân, theo đó, người lao động làm việc tiếp xúc với một trong những yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại dưới đây thì được trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân:
- Tiếp xúc với yếu tố vật lý không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh.
- Tiếp xúc với bụi và hóa chất độc hại.
- Tiếp xúc với yếu tố sinh học độc hại:
a) Vi rút, vi khuẩn độc hại gây bệnh, côn trùng có hại;
b) Phân, nước thải, rác, cống rãnh;
c) Các yếu tố sinh học độc hại khác.
- Làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động tiềm ẩn các mối nguy mất an toàn, vệ sinh lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; làm việc trên cao; làm việc trong hầm lò, nơi thiếu dưỡng khí; làm việc trên biển, trên sông nước, trong hầm sâu, trong không gian hạn chế, trong rừng; làm việc trong núi đá, hang đá hoặc điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại khác.
Người lao động bán thời gian hay thời vụ không phải tự mua đồ bảo hộ nếu làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại hoặc đáp ứng các điều kiện trên. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động và đảm bảo an toàn cho mọi lao động, không phân biệt loại hợp đồng.
4. Ai chịu trách nhiệm nếu xảy ra tai nạn do đồ bảo hộ nhân viên tự mua không đảm bảo chất lượng?
- Theo khoản 3 Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015, người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
b) Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương tiện bảo vệ cá nhân;
c) Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân;
d) Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ.
- Theo khoản 2 Điều 8 Thông tư 25/2022/TT-BLĐTBXH, người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm tra chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân trước khi trang cấp, trong quá trình sử dụng. Trường hợp cấp phát cho người đại diện ở tổ đội, phân xưởng nơi người lao động làm việc thì phải tổ chức kiểm tra, giám sát việc giao nhận phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động.
Do đó, doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm chính khi xảy ra tai nạn lao động, kể cả khi nhân viên tự mua đồ bảo hộ không chất lượng. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ trang bị đầy đủ, kiểm tra định kỳ đồ bảo hộ và không được phép để nhân viên tự trang bị các thiết bị an toàn, do đó việc không cấp hoặc để nhân viên tự mua là hành vi sai phạm. Trường hợp người lao động tự ý mua đồ kém chất lượng (thay vì dùng đồ công ty cấp) thì người lao động phải chia sẻ một phần trách nhiệm vì đã không tuân thủ quy định an toàn lao động.
5. Đồ bảo hộ do nhân viên tự mua có được tính vào chi phí hợp pháp của doanh nghiệp không?
Theo khoản 1 Điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP, trừ các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm cả khoản chi phí bổ sung được trừ theo tỷ lệ phần trăm tính trên chi phí thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp;
- Khoản chi thực tế phát sinh khác;
- Các khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
- Đối với các khoản chi vượt mức quy định của pháp luật về bảo hộ lao động, phần vượt mức sẽ không được tính là chi phí được trừ.
- Chi phí bảo hộ lao động phải được ghi nhận đầy đủ trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp và phù hợp với các quy định về an toàn lao động theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
Đồ bảo hộ do nhân viên tự mua có thể được tính vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện về chứng từ và hình thức chi trả theo quy định của pháp luật về thuế. - Nếu doanh nghiệp chi tiền cho nhân viên tự mua: Trường hợp này thường được coi là chi trang phục bằng tiền mặt.
- Mức khống chế: Được tính vào chi phí hợp lý tối đa 5.000.000 đồng/người/năm.
- Phần vượt mức: Nếu doanh nghiệp chi quá 5 triệu đồng/người/năm, phần vượt quá sẽ không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo điểm d khoản 8 Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP.
- Chứng từ cần thiết:
- Quyết định hoặc Quy chế tài chính của công ty quy định về mức chi phụ cấp này.
- Danh sách nhân viên nhận tiền có ký xác nhận.
- Phiếu chi tiền mặt hoặc chứng từ chuyển khoản ngân hàng.
- Nếu nhân viên tự mua thì để được tính vào chi phí hợp lý thì hóa đơn mua đồ bảo hộ phải mang tên, địa chỉ và mã số thuế của doanh nghiệp.
Kết luận lại, đồ bảo hộ do nhân viên tự mua có được tính vào chi phí hợp pháp của doanh nghiệp nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về chứng từ, hóa đơn, hạn mức chi và quy định nội bộ tùy theo từng trường hợp.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về bắt nhân viên tự mua đồ bảo hộ mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.