I. Thực trạng về việc bảo vệ quyền lợi thừa kế hiện nay

Hiện nay, việc bảo vệ quyền lợi thừa kế đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp thừa kế. Các tranh chấp này thường phức tạp do liên quan đến quan hệ gia đình, huyết thống và nuôi dưỡng, dẫn đến nhiều vụ việc kéo dài và khó giải quyết. Nhiều vụ án thừa kế phải trải qua nhiều cấp xét xử và vẫn có thể bị kháng cáo, khiếu nại do các bên không đồng tình với phán quyết. Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!

II. Quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi thừa kế

1. Bảo vệ quyền lợi thừa kế là gì?

Theo Điều 609 Bộ luật dân sự 2015, pháp luật có quy định về quyền thừa kế như sau:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Dựa theo quy định trên, có thể hiểu bảo vệ quyền lợi thừa kế là việc thực hiện các biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người thừa kế và người để lại di sản thừa kế, bao gồm quyền định đoạt tài sản, quyền được nhận di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, cũng như bảo vệ họ khỏi các hành vi xâm phạm quyền thừa kế. 

2. Tại sao cần phải bảo vệ quyền lợi thừa kế?

Việc bảo vệ quyền lợi thừa kế là rất quan trọng vì:

- Đảm bảo sự công bằng: Quyền thừa kế được quy định rõ ràng trong pháp luật, đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia tài sản cho những người thừa kế, đặc biệt là những người thân thiết với người để lại di sản. 

- Tránh tranh chấp: Việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, cũng như việc lập di chúc rõ ràng, giúp hạn chế tối đa các tranh chấp về sau. 

- Bảo vệ quyền lợi của người yếu thế: Pháp luật thường có những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế không có khả năng lao động, người chưa thành niên, hoặc người già yếu. 

- Duy trì sự ổn định gia đình: Tranh chấp thừa kế có thể gây ra những mâu thuẫn sâu sắc trong gia đình. Việc bảo vệ quyền thừa kế giúp duy trì sự hòa thuận và ổn định trong các mối quan hệ gia đình. 

- Thể hiện ý chí của người để lại di sản: Việc lập di chúc thể hiện ý chí của người để lại di sản trong việc phân chia tài sản, và pháp luật tôn trọng ý chí đó. 

- Tài sản được quản lý và sử dụng hiệu quả: Quyền thừa kế giúp tài sản của người đã mất được quản lý và sử dụng một cách hợp lý, tránh lãng phí hoặc sử dụng sai mục đích. 

3. Pháp luật quy định như thế nào để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người thừa kế?

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người thừa kế, pháp luật quy định như sau:

- Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc theo Điều 609 Bộ luật dân sự 2015.

 

- Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật theo Điều 610 Bộ luật dân sự 2015.

- Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo Điều 613, 614 Bộ luật dân sự 2015.

III. Giải đáp các thắc mắc về bảo vệ quyền lợi thừa kế

1. Người thừa kế có thể yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi của mình trong trường hợp bị tranh chấp không?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Bên cạnh đó, theo Điều 185 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, khi xảy ra tranh chấp về di sản thừa kế thì cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm trong tranh chấp liên quan đến thừa kế. 

2. Trường hợp nào cần phải bảo vệ quyền lợi thừa kế?

Quyền lợi thừa kế cần được bảo vệ trong các trường hợp sau:

- Khởi kiện khi tranh chấp về hàng thừa kế, tranh chấp giữa những người thừa kế cùng hàng thừa kế hoặc giữa những người thuộc các hàng thừa kế khác nhau.

- Khởi kiện khi tranh chấp về di sản thừa kế, tranh chấp liên quan đến số lượng, giá trị của di sản.

- Khởi kiện khi tranh chấp về cách hiểu của nội dung di chúc. 

- Khởi kiện khi tranh chấp việc xác định chủ thể thực hiện nghĩa vụ của người để lại di sản.

- Khởi kiện khi tranh chấp việc phân chia di sản thừa kế.

- Các trường hợp liên quan đến quyền lợi thừa kế khác.

3. Khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, người thừa kế còn có thể thực hiện biện pháp nào để bảo vệ quyền lợi của mình không?

Khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế, người thừa kế vẫn có thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các biện pháp sau:

- Yêu cầu chia di sản thừa kế theo hướng bảo vệ quyền sở hữu tài sản: Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản. Do đó, người thừa kế có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế, dù đã hết thời hiệu khởi kiện, nếu việc yêu cầu này xuất phát từ việc bảo vệ quyền sở hữu tài sản. 

- Thỏa thuận với các đồng thừa kế: Nếu các đồng thừa kế cùng nhau thống nhất, họ có thể tự thỏa thuận phân chia di sản mà không cần phải thông qua Tòa án. 

- Chờ di sản thuộc về người đang quản lý hoặc chiếm hữu: Nếu không có ai yêu cầu chia di sản thừa kế và di sản đó đang do một người thừa kế quản lý hoặc chiếm hữu hợp pháp, thì di sản đó có thể thuộc về người đang quản lý hoặc chiếm hữu, theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.

- Chờ di sản thuộc về Nhà nước: Nếu không có người thừa kế nào yêu cầu chia di sản và không có người đang chiếm hữu hợp pháp, thì di sản đó sẽ thuộc về Nhà nước.

4. Người thừa kế có thể yêu cầu tòa án giải quyết khi quyền lợi bị xâm phạm trong quá trình chia di sản không?

Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cụ thể:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Như vậy, người thừa kế có thể yêu cầu tòa án giải quyết khi quyền lợi của họ bị xâm phạm trong quá trình chia di sản để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 

5. Có cơ chế nào để bảo vệ quyền lợi của người thừa kế chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự không?

Căn cứ vào quy định tại Điều 609 và Điều 610 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế và quyền bình đẳng về thừa kế có thể nói mọi cá nhân đều bình đẳng về thừa kế, có quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Bên cạnh đó Điều 613 Bộ luật dân sự 2015, Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Như vậy, người mất năng lực hành vi dân sự vẫn có quyền được hưởng thừa kế theo quy định trên.

 

Theo Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 những người thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc như sau:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Như vậy, theo quy định nêu trên, người chưa thành niên được quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, việc sử dụng di sản thừa kế sẽ được thông qua người giám hộ theo quy định

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về bảo vệ quyền lợi thừa kế

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về bảo vệ quyền lợi thừa kế mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.