Hiện nay, tình trạng trẻ em phải lao động sớm, thậm chí lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển toàn diện của các em. Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em lao động, pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều quy định nhằm ngăn chặn tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em và đảm bảo quyền lợi của các em khi tham gia lao động. Bài viết này NPLaw sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ trẻ em lao động.
I. Thực trạng bảo vệ trẻ em lao động hiện nay
Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, lao động trẻ em vẫn là một vấn đề nhức nhối tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Mặc dù pháp luật đã có những quy định nghiêm ngặt về việc cấm sử dụng lao động dưới tuổi vị thành niên trong các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nhưng trên thực tế, trẻ em vẫn phải tham gia lao động vì nhiều nguyên nhân xã hội và kinh tế.
- Trẻ em lao động chủ yếu trong các ngành nghề giản đơn, ít được bảo vệ: Phần lớn trẻ em lao động hiện nay tập trung ở các khu vực nông thôn và các ngành nghề như gia công thủ công, làm thuê, bán hàng rong, giúp việc gia đình hoặc trong các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Những công việc này thường không được quản lý chặt chẽ, dẫn đến trẻ em dễ bị bóc lột sức lao động, không có điều kiện làm việc an toàn và không được đảm bảo quyền lợi tối thiểu.
- Tình trạng lao động trẻ em trái phép và làm việc quá giờ: Nhiều trẻ em vẫn bị sử dụng lao động trái phép, không được ký hợp đồng lao động hoặc bảo hiểm xã hội, làm việc trong điều kiện thiếu an toàn lao động và không có sự giám sát của cơ quan chức năng. Việc làm quá giờ, làm việc ban đêm hoặc làm những công việc độc hại vẫn diễn ra ở một số nơi, vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em lao động.
- Thiếu sự giám sát và phối hợp trong việc bảo vệ trẻ em lao động: Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến việc phát hiện, hỗ trợ và xử lý các trường hợp trẻ em lao động trái phép hoặc bị bóc lột sức lao động. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình trong việc bảo vệ quyền trẻ em chưa hiệu quả, dẫn đến nhiều trẻ em dễ dàng bị rơi vào tình trạng bị lợi dụng lao động.
II. Quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em lao động
1. Khái niệm trẻ em và bảo vệ trẻ em lao động?
Theo Hiệp ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em thì định nghĩa một đứa trẻ là: “Mọi con người dưới 18 tuổi trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn”. Theo đó, Trẻ em được hiểu là người chưa trưởng thành, ở Việt Nam theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 thì trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Về trẻ em lao động, hiện nay pháp luật có quy định về lao động chưa thành niên. Theo Điều 143 Bộ luật Lao động 2019, Lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.

Như vậy, bảo vệ trẻ em lao động là tập hợp các biện pháp, chính sách và quy định pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi, an toàn và sức khỏe cho trẻ em khi tham gia vào các hoạt động lao động; đồng thời ngăn chặn, loại bỏ việc sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật, đặc biệt trong những công việc nguy hiểm, độc hại, hoặc có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.
2. Hành vi sử dụng trẻ em lao động có thuộc hành vi bị cấm trong bảo vệ trẻ em lao động không?
Theo Điều 143 Bộ luật Lao động 2019, quy định về sử dụng lao động trẻ em như sau:
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm công việc hoặc làm việc ở nơi làm việc quy định tại Điều 147 của Bộ luật này.
- Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
- Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này.
Danh mục công việc theo hướng dẫn tại Thông tư 09/2020/TT-BLDTBXH.
Như vậy, nếu hành vi sử dụng trẻ em lao động làm những công việc không thuộc trường hợp trên thì thuộc hành vi bị cấm trong bảo vệ trẻ em lao động.
3. Các biện pháp pháp lý và xã hội nhằm bảo vệ trẻ em lao động hiện nay?
Biện pháp pháp lý
- Ban hành và thực thi các quy định pháp luật nghiêm ngặt
Luật Trẻ em 2016 quy định rõ quyền của trẻ em, nghiêm cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi trong mọi hình thức lao động, đặc biệt là lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Bộ luật Lao động 2019 quy định tuổi tối thiểu được phép làm việc, điều kiện làm việc cho người dưới 18 tuổi, cấm làm việc ban đêm, làm thêm giờ đối với lao động trẻ em.
Các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về bảo vệ trẻ em lao động, xử phạt vi phạm liên quan đến lao động trẻ em.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Các cơ quan chức năng như Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra lao động, công an, liên tục kiểm tra việc sử dụng lao động trẻ em, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
Áp dụng các biện pháp hành chính, phạt tiền, đình chỉ hoạt động, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật.
- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành
Thiết lập mạng lưới phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước (LĐ-TB&XH, công an, giáo dục, y tế) nhằm phát hiện, ngăn chặn, hỗ trợ trẻ em lao động trái phép hoặc bị bóc lột.
Biện pháp xã hội
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quyền trẻ em, tác hại của lao động trẻ em qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các buổi hội thảo, truyền thông tại địa phương.
Nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng về quyền lợi trẻ em, trách nhiệm không sử dụng lao động trẻ em và tạo điều kiện cho trẻ em học hành.
- Hỗ trợ kinh tế và giáo dục cho gia đình có trẻ em lao động
Thực hiện các chương trình giảm nghèo, hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lớn trong gia đình nhằm giảm áp lực kinh tế buộc trẻ em phải lao động.
Tạo điều kiện học tập, hỗ trợ học phí, cấp phát sách vở, xây dựng môi trường học tập thân thiện, khuyến khích trẻ em đến trường đầy đủ.
- Thành lập các tổ chức bảo vệ trẻ em, trung tâm trợ giúp
Các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, nhóm cộng đồng tham gia hỗ trợ trẻ em bị bóc lột lao động, cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý, can thiệp bảo vệ kịp thời.
Thiết lập các trung tâm hỗ trợ, cơ sở chăm sóc và phục hồi cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi lao động sớm hoặc bị bóc lột.

4. Cơ quan nào có thẩm quyền thực hiện công tác bảo vệ trẻ em lao động?
Theo Luật trẻ em 2016 và Nghị định 56/2017/NĐ-CP, Việt Nam có 17 cơ quan có nghĩa vụ bảo vệ quyền trẻ em. Trong đó, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác bảo vệ trẻ em lao động chủ yếu bao gồm:
- Sở Lao động – Thương binh và Xã hội
- Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện, quận, xã
- Công an nhân dân
- Thanh tra Lao động
- Cơ quan Giáo dục
- Cơ quan Y tế
- Các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, đoàn thể
III. Giải đáp thắc mắc liên quan đến bảo vệ trẻ em lao động
1. Bắt trẻ em lao động có bị xem là hành vi bóc lột theo quy định bảo vệ trẻ em lao động không?
Bóc lột trẻ em là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em để hoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi (khoản 7, Điều 4 Luật Trẻ em 2016).
Như vậy, nếu bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về lao động, cụ thể là Bộ luật lao động 2019, thì được xem là hành vi bóc lột theo quy định bảo vệ trẻ em lao động.
2. Có những cấp độ nào trong hệ thống bảo vệ trẻ em lao động hiện nay?
Căn cứ tại Điều 47 Luật Trẻ em 2016, bảo vệ trẻ em được thực hiện theo 3 cấp độ là: Phòng ngừa, hỗ trợ, can thiệp.
Theo đó, Luật Trẻ em 2016 giải thích rõ từng cấp độ bảo vệ trẻ em như sau:
- Cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt;
- Cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em;
- Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
3. Số tổng đài điện thoại quốc gia hỗ trợ bảo vệ trẻ em lao động là gì?
Số tổng đài điện thoại quốc gia hỗ trợ bảo vệ trẻ em lao động là 111.
Tổng đài điện thoại Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111 tiền thân chính là Đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em- Phím số diệu kỳ 18001567 thành lập năm 2004. Tổng đài điện thoại Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111 được Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam; Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về trẻ em Việt Nam cùng đại biểu quốc tế, lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và đại điện trẻ em khai trương từ ngày 06/12/2017, hoạt động 24/24h tất cả các ngày trong tuần, được Nhà nước bảo đảm nguồn lực hoạt động tổng đài đã hoạt động suốt 24/24h tất cả các ngày trong tuần để tư vấn, tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo tố giác hành vi xâm hại trẻ nhỏ. Tổng đài điện thoại Quốc gia bảo vệ trẻ em 111 với ba chữ số 111, những con số đơn giản, ngắn và dễ nhớ luôn kịp thời, sẵn sàng tiếp nhận và xử lý những vẫn đề liên quan đến quyền trẻ em, tạo nên bức tường an toàn âm thầm bảo vệ trẻ em trên toàn Việt Nam.
4. Doanh nghiệp sử dụng trẻ em dưới 15 tuổi có vi phạm quy định bảo vệ trẻ em lao động không?
Doanh nghiệp sử dụng trẻ em dưới 15 tuổi không thuộc danh mục công việc nhẹ theo Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 09/2020/TT-BLDTBXH như Biểu diễn nghệ thuật, Vận động viên thể thao, Lập trình phần mềm,.. thì vi phạm quy định bảo vệ trẻ em lao động theo Điều 143 Bộ luật Lao động 2019.
5. Cha mẹ giao việc cho con ngoài giờ học có vi phạm luật bảo vệ trẻ em lao động không?
Nếu cha mẹ giao việc cho con phù hợp với độ tuổi, sức khỏe, không ảnh hưởng đến học tập và không mang tính chất bóc lột sức lao động, thì không vi phạm luật bảo vệ trẻ em lao động. Ngược lại, nếu giao việc nặng nhọc, ép làm việc quá sức, làm thay cho người lớn để kiếm tiền, hoặc ảnh hưởng đến quyền được học tập, vui chơi, thì có thể bị xem là vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em.
IV. Dịch vụ tư vấn liên quan đến bảo vệ trẻ em lao động
Trên đây là tất cả các thông tin chi tiết mà NPLaw của chúng tôi cung cấp để hỗ trợ quý khách hàng về bảo vệ trẻ em lao động. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác thì hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.