Trong quan hệ dân sự, lao động hay thương mại, hợp đồng luôn là nền tảng pháp lý quan trọng ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, không ít trường hợp một bên tự ý chấm dứt hợp đồng mà không tuân thủ đúng quy định pháp luật hoặc không có căn cứ chính đáng, dẫn đến tranh chấp, thiệt hại và mất niềm tin trong quan hệ hợp tác. Việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định không chỉ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường mà còn có thể bị xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc hợp đồng lao động.
I. Thực trạng chấm dứt hợp đồng không đúng quy định trong giai đoạn hiện nay
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các loại hợp đồng dân sự, lao động, thương mại, đầu tư… được ký kết ngày càng nhiều, đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, song song với sự gia tăng đó là thực trạng các bên đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật đang diễn ra khá phổ biến, gây ra nhiều tranh chấp phức tạp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự giao dịch dân sự.
Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, một bên tự ý chấm dứt hợp đồng khi chưa có căn cứ pháp lý hoặc chưa đáp ứng điều kiện luật định, chẳng hạn như không thông báo trước, không có lý do chính đáng, hoặc vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận. Tình trạng này xuất hiện ở nhiều lĩnh vực:
- Trong quan hệ lao động: Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động vì lý do chủ quan (cắt giảm chi phí, thay đổi cơ cấu nhân sự...) mà không tuân thủ thời hạn báo trước hoặc không thuộc trường hợp được phép chấm dứt theo Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019.
- Trong lĩnh vực thuê – cho thuê, mua bán tài sản: Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng khi giá thị trường biến động hoặc có bên khác đưa ra lợi ích cao hơn, dẫn đến thiệt hại cho bên còn lại.
- Trong hợp đồng dịch vụ hoặc xây dựng: Bên thuê dịch vụ hoặc chủ đầu tư tự ý chấm dứt hợp đồng khi công việc chưa hoàn thành, không thanh toán phần nghĩa vụ tương ứng, vi phạm thỏa thuận ban đầu.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này phần lớn xuất phát từ nhận thức pháp luật hạn chế, thiếu hiểu biết về điều kiện chấm dứt hợp đồng, hoặc tâm lý chủ quan, xem nhẹ giá trị pháp lý của hợp đồng. Một số trường hợp khác, các bên lợi dụng vị thế kinh tế hoặc quyền lực để chấm dứt hợp đồng nhằm phục vụ lợi ích riêng, gây thiệt hại đáng kể cho đối tác.

Hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật không chỉ là thiệt hại về tài sản và uy tín của các bên mà còn làm tăng khối lượng tranh chấp dân sự, lao động, thương mại phải giải quyết tại Tòa án và Trọng tài thương mại. Nhiều vụ việc kéo dài nhiều năm, gây tốn kém thời gian, chi phí và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư – kinh doanh.
Có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay, việc tuân thủ quy định pháp luật khi chấm dứt hợp đồng vẫn chưa được các cá nhân, tổ chức coi trọng đúng mức. Đây là vấn đề cần được nhận thức rõ và xử lý nghiêm nhằm bảo đảm tính công bằng, ổn định và an toàn cho các giao dịch dân sự – thương mại trong nền kinh tế.
II. Chấm dứt hợp đồng không đúng quy định là gì?
Trong thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng, việc chấm dứt hợp đồng là một bước quan trọng, đánh dấu việc kết thúc quan hệ pháp lý giữa các bên. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng đều hợp pháp. Có nhiều tình huống, một bên tự ý chấm dứt hợp đồng mà không có căn cứ, không tuân thủ trình tự hoặc điều kiện luật định, dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi.
1. Khái niệm về chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp được pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận (Điều 422 BLDS 2015). Tuy nhiên, khi một bên tự ý chấm dứt hợp đồng mà không thuộc các căn cứ luật định, hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ pháp lý về thông báo, thời hạn, điều kiện chấm dứt, thì được coi là chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật.
Nói cách khác, đây là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, làm phát sinh trách nhiệm dân sự cho bên vi phạm, bao gồm:
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bên bị ảnh hưởng;
- Buộc khôi phục tình trạng ban đầu (nếu có thể);
- Chịu phạt vi phạm hợp đồng nếu hợp đồng có thỏa thuận về chế tài.
Ví dụ: Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với nhân viên mà không báo trước hoặc không thuộc trường hợp được phép theo Điều 36 Bộ luật Lao động 2019; hoặc bên thuê nhà tự ý chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn mà không có lý do chính đáng và không thông báo theo thỏa thuận.
2. Các trường hợp dẫn đến chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Thực tiễn cho thấy, hành vi chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau, thường rơi vào các trường hợp sau:
Chấm dứt hợp đồng không thuộc các trường hợp sau theo Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Hợp đồng đã được hoàn thành;
- Theo thỏa thuận của các bên;
- Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
- Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;
- Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;
- Hợp đồng chấm dứt do thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng không đúng quy định theo Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Ngoài ra, còn bao gồm các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, đó là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật lao động 2019.
III. Quy định pháp luật liên quan đến chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, việc chấm dứt hợp đồng là một hành vi pháp lý đơn phương hoặc song phương, chỉ được thực hiện khi có căn cứ hợp pháp và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục được quy định. Khi một bên tự ý chấm dứt hợp đồng mà không có lý do chính đáng hoặc trái quy định, hành vi này có thể dẫn đến vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại cho bên còn lại và bị xử lý theo quy định. .
1. Quy định liên quan khi giải quyết chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Các quy định liên quan khi giải quyết chấm dứt hợp đồng không đúng quy định cần lưu ý bao gồm:
- Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015 về các trường hợp chấm dứt hợp đồng;
- Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015 về đơn phương chấm dứt hợp đồng;
- Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 40, Điều 41 của Bộ luật lao động 2019: Quy định về chấm dứt hợp đồng lao động; hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
2. Ai có thẩm quyền giải quyết chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Tùy theo loại hợp đồng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp có thể thuộc về:
- Tòa án nhân dân có thẩm quyền (theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi năm 2025).
- Trọng tài thương mại, nếu các bên có thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng (theo Luật Trọng tài thương mại 2010).

- Đối với hợp đồng lao động, tranh chấp có thể được giải quyết tại Hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động 2019.
3. Hậu quả nếu chấm dứt hợp đồng không đúng quy định không thể xử lý?
Nếu việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định không được xử lý kịp thời, các hậu quả có thể phát sinh gồm:
- Mất cân bằng quyền và nghĩa vụ giữa các bên;
- Thiệt hại vật chất và uy tín, đặc biệt trong hợp đồng thương mại hoặc hợp đồng hợp tác dài hạn;
- Bên bị thiệt hại không được bồi thường đúng mức, gây ra xung đột pháp lý kéo dài;
- Làm giảm niềm tin trong quan hệ hợp tác, dẫn đến rủi ro pháp lý và tài chính lâu dài.
Đối với hợp đồng lao động, nếu người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải thực hiện nghĩa vụ theo Điều 40 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải thực hiện nghĩa vụ theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019.
IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Trong thực tế, việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau và dẫn đến những hệ quả pháp lý phức tạp. Do đó, để giúp các bên hiểu rõ hơn về trình tự xử lý, trách nhiệm pháp lý và cách bảo vệ quyền lợi, dưới đây là những giải đáp cho các câu hỏi thường gặp liên quan đến vấn đề này:
1. Các quy trình nào cần thực hiện khi một bên chấm dứt hợp đồng không đúng quy định?
Khi phát hiện hợp đồng bị chấm dứt trái quy định, bên bị ảnh hưởng cần:
- Thu thập chứng cứ (văn bản, email, biên bản, tin nhắn...) chứng minh hành vi chấm dứt không có căn cứ hợp pháp;
- Gửi văn bản yêu cầu bên vi phạm khắc phục hoặc bồi thường thiệt hại;
- Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận, bên bị ảnh hưởng có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Tòa án hoặc Trọng tài thương mại) giải quyết theo quy định pháp luật.
2. Nếu một bên cố tình chấm dứt hợp đồng không đúng quy định, trách nhiệm pháp lý của họ sẽ được xử lý như thế nào?
Nếu một bên cố tình chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định, bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ theo Điều 40, Điều 41 Bộ luật Lao động 2019, cụ thể:
Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật bao gồm:
- Không được trợ cấp thôi việc.
- Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật Lao động 2019.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.
- Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
3. Nếu chấm dứt hợp đồng không đúng quy định dẫn đến hậu quả không lường trước được, bên nào sẽ chịu trách nhiệm?
Theo nguyên tắc, bên nào có lỗi trực tiếp gây ra thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu lỗi xuất phát từ việc tự ý chấm dứt, vi phạm nghĩa vụ hoặc không thông báo trước, thì bên chấm dứt hợp đồng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả phát sinh, kể cả những thiệt hại gián tiếp có thể dự đoán được.
4. Chấm dứt hợp đồng không đúng quy định có thể ảnh hưởng đến các bên liên quan như nhà cung cấp hoặc khách hàng không? Cách giải quyết như thế nào?
Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là hợp đồng thương mại hoặc hợp đồng chuỗi cung ứng, việc chấm dứt trái pháp luật có thể gây thiệt hại cho các bên thứ ba như đối tác, nhà phân phối hoặc khách hàng.
Khi đó, bên bị ảnh hưởng có thể yêu cầu bồi thường gián tiếp nếu chứng minh được thiệt hại là hệ quả tất yếu của hành vi vi phạm hợp đồng ban đầu. Việc giải quyết sẽ do Tòa án hoặc Trọng tài thương mại căn cứ vào mức độ liên đới và trách nhiệm pháp lý của các bên.
5. Làm thế nào để bên bị thiệt hại chứng minh thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng không đúng quy định?
Để bên bị thiệt hại chứng minh thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng không đúng quy định, bên bị thiệt hại cần:
- Cung cấp chứng cứ về hành vi vi phạm hợp đồng (thông báo chấm dứt, thời điểm, lý do...);
- Tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế: hợp đồng phụ, hóa đơn, chi phí phát sinh, lợi nhuận bị mất;
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại.
- Cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào các chứng cứ này để xác định mức bồi thường hợp lý và công bằng cho bên bị thiệt hại.
V. Bạn đang tìm một luật sư uy tín để giải quyết các vấn đề liên quan đến chấm dứt hợp đồng không đúng quy định
Việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định pháp luật không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, quyền lợi và mối quan hệ hợp tác giữa các bên. Để hạn chế rủi ro, các bên cần nắm vững quy định pháp luật, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục khi muốn chấm dứt hợp đồng, đồng thời nên tham khảo ý kiến của luật sư trước khi thực hiện bất kỳ hành động pháp lý nào.
Nếu bạn đang gặp phải các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng không đúng quy định, hãy liên hệ với Công ty Luật NPLAW chúng tôi. Với đội ngũ luật sư và chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLAW sẽ hỗ trợ bạn đánh giá tình huống, soạn thảo hồ sơ, thương lượng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong mọi tranh chấp phát sinh, đảm bảo mang lại giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất cho bạn.