Việc thừa kế di sản thường được cho là việc phân chia những tài sản hữu hình của người đã khuất. Nhưng nếu một phần di sản đã bị mất, hư hỏng hoặc chuyển nhượng trước khi việc phân chia được thực hiện, thì liệu người thừa kế có còn quyền lợi đối với phần tài sản đó? Bài viết này của NPLaw sẽ đi sâu vào quy định pháp luật về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia, từ đó đưa ra các giải pháp pháp lý và hướng dẫn cụ thể để các bên có thể giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả và công bằng.
I. Giới thiệu về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia trong giai đoạn hiện nay
1. Khái niệm về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia
Pháp luật hiện hành không có quy định khái niệm cụ thể về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia, tuy nhiên có thể căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan như sau:
Theo Điều 612 Bộ luật dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Thời điểm phân chia hay thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo Điều 611, 614 Bộ luật dân sự 2015.

Như vậy, từ các quy định trên có thể hiểu di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia là di sản đã bị tiêu hủy, bị mất, hoặc bị chuyển giao cho người khác tại thời điểm người để lại di sản qua đời (thời điểm mở thừa kế).
2. Tình huống nào sẽ dẫn đến việc di sản không còn tồn tại trước và sau khi phân chia?
Có nhiều tình huống khác nhau dẫn đến việc di sản không còn tồn tại trước và sau khi phân chia như sau:
Trước khi phân chia di sản:
- Bị tiêu hủy, hư hỏng do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, do lỗi của người khác hoặc các yếu tố khách quan khác, làm cho tài sản không còn nguyên vẹn hoặc mất hoàn toàn giá trị.
- Bị chiếm đoạt, sử dụng hết: Người thừa kế hoặc người khác có thể chiếm đoạt, sử dụng hết tài sản trước khi di sản được phân chia, dẫn đến việc không còn tài sản để chia cho những người có quyền hưởng.
- Chuyển nhượng cho người khác, cầm cố, thế chấp mà không được giải chấp trước khi phân chia.
Sau khi phân chia di sản:
- Phân chia thừa kế không đúng quy định hoặc theo thỏa thuận trong di chúc dẫn đến tài sản bị phân tán, sử dụng sai mục đích, hoặc bị chiếm đoạt, làm cho di sản không còn nguyên vẹn.
- Tranh chấp về di sản thừa kế có thể làm chậm trễ quá trình phân chia, thậm chí dẫn đến việc tài sản bị hao hụt, hư hỏng, hoặc tiêu hủy trong quá trình giải quyết.
- Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khách quan khác dẫn đến việc di sản không còn tồn tại trước và sau khi phân chia.
III. Quy định pháp luật liên quan đến di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia
1. Quy định cần lưu ý liên quan đến di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia
Trường hợp phân chia di sản theo di chúc, nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo khoản 2 Điều 659 Bộ luật dân sự 2015.
Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực theo khoản 3 Điều 643 Bộ luật dân sự 2015.
2. Quy trình khởi kiện trong trường hợp di sản không còn tồn tại là gì và kéo dài bao lâu?
Khởi kiện đối với trường hợp di sản không còn tồn tại khi chia thời kế là tranh chấp liên quan đến thừa kế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án nơi có tài sản thừa kế hoặc nơi cư trú của bị đơn (người có quyền lợi liên quan) theo phương thức bưu điện hoặc trực tiếp tại Tòa án theo Điều 190 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tòa án sẽ xem xét và thụ lý vụ án nếu đủ điều kiện.

Hồ sơ khởi kiện theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bao gồm:
- Đơn khởi kiện (theo mẫu);
- Các giấy tờ chứng minh nhân thân của người khởi kiện đối với người để lại di sản: Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh, Thẻ căn cước công dân, Hộ chiếu.
- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;
- Di chúc hoặc Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế (nếu có);
- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Hợp đồng mua bán nhà, Hợp đồng tặng cho, Hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng (nếu có);
- Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).
- Sau khi thụ lý vụ án Tòa án sẽ triệu tập đương sự, tiến hành thủ tục hòa giải và chuẩn bị xét xử theo trình tự tố tụng quy định tại Chương XIII Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Về thời hạn giải quyết vụ án, theo Điều 195, 196, 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tổng thời gian giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm sẽ là 05 - 06 tháng, tính từ ngày nhận đơn khởi kiện đến ngày mở phiên tòa. Tuy nhiên, trên thực tế tùy độ phức tạp của vụ án có thể kéo dài hơn và phải trải qua thủ tục phúc thẩm.
3. Ai sẽ chịu trách nhiệm pháp lý nếu di sản không còn tồn tại do hành vi sai trái?
Trong trường hợp di sản không còn tồn tại do hành vi sai trái, người chịu trách nhiệm pháp lý có thể là người quản lý di sản hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản. Nếu di sản bị tẩu tán, chiếm đoạt, hoặc hủy hoại bởi người quản lý di sản, họ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu di sản bị chiếm đoạt bởi người thừa kế hoặc người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản, người đó sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định tại Điều 616, 617 Bộ luật dân sự 2015.
4. Nếu di sản không còn tồn tại do nguyên nhân bất khả kháng, các bên có thể yêu cầu bồi thường không?
Không. Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Như vậy, trong trường hợp di sản không còn tồn tại do nguyên nhân bất khả kháng, các bên liên quan có thể không phải bồi thường thiệt hại, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên, có bảo hiểm tài sản hoặc pháp luật có quy định khác.
IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia
1. Nếu người lập di chúc đã đề cập đến di sản không còn tồn tại, di chúc đó có còn hiệu lực không?
Không, Theo khoản 3 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
Như vậy, nếu di sản được đề cập trong di chúc không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế (thời điểm người lập di chúc chết), thì phần di chúc liên quan đến di sản đó sẽ không có hiệu lực, tuy nhiên, trường hợp di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
2. Có cách nào xác định nguyên nhân khiến di sản không còn tồn tại không?
Pháp luật hiện hành không có quy định về vấn đề này. Tuy nhiên có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến cho di sản không còn tồn tại như di sản bị tiêu hủy, hư hỏng do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, do lỗi của người khác hoặc các yếu tố khách quan khác, làm cho tài sản không còn nguyên vẹn hoặc mất hoàn toàn giá trị. Bị chiếm đoạt, sử dụng hết hoặc chuyển nhượng cho người khác, cầm cố, thế chấp mà không được giải chấp trước khi phân chia.
Khi đó người thừa kế hoặc người có quyền lợi liên quan có thể yêu cầu giám định, thu thập chứng cứ, hoặc yêu cầu Tòa án xác minh thông tin, truy cứu trách nhiệm từ người quản lý hoặc người đang giữ tài sản theo khoản 7 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
3. Trong trường hợp di sản không còn tồn tại, vai trò của người quản lý di sản sẽ được xác định như thế nào?
Trong trường hợp di sản không còn tồn tại, vai trò của người quản lý di sản sẽ không còn ý nghĩa thực tế. Tuy nhiên, theo Điều 616, 617 Bộ luật dân sự 2015, người quản lý di sản vẫn có trách nhiệm:
- Thông báo về tình trạng di sản cho các người thừa kế và các bên liên quan;
- Bảo toàn tài sản, nếu có hành vi làm thất thoát tài sản, họ có thể bị buộc bồi thường thiệt hại. Trường hợp không có lỗi, họ phải cung cấp chứng cứ chứng minh lý do hợp lý.
4. Di sản không còn tồn tại có thể dẫn đến việc phân chia tài sản khác hay không?
Có thể. Khi di sản không còn tồn tại, các bên có thể thỏa thuận phân chia tài sản khác thuộc sở hữu chung, hoặc yêu cầu bồi thường từ người gây thiệt hại theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 để phân chia phần giá trị đó.
5. Nếu di sản đã mất hoặc bị tiêu hủy trước khi phân chia, người thừa kế có thể yêu cầu gì từ tòa án?
Nếu di sản bị mất hoặc tiêu hủy trước khi phân chia, người thừa kế có thể yêu cầu tòa án xác định quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại cần bồi thường do hành vi sai trái của người khác đối với di sản.
Cụ thể, theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có quyền yêu cầu Tòa án xác nhận quyền thừa kế tuy nhiên cần lưu ý về thời hiệu yêu cầu là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Đồng thời, theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. Do đó, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu di sản đã mất hoặc bị tiêu hủy trước khi phân chia do hành vi sai trái của người khác.
V. Có nên tìm luật sư tư vấn để được hỗ trợ hiệu quả trong tư vấn về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia không?
Có. Nên tìm Luật sư tư vấn để được hỗ trợ hiệu quả trong tư vấn về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia vì Luật sư có kiến thức chuyên sâu về pháp luật thừa kế, đặc biệt là các quy định liên quan đến di sản không còn tồn tại. Họ sẽ giúp bạn hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như cách giải quyết tranh chấp liên quan đến di sản không còn (hoặc không còn nguyên vẹn).
Luật sư có thể tư vấn về các phương án giải quyết, bao gồm việc thương lượng, hòa giải hoặc khởi kiện nếu cần thiết. Họ cũng có thể giúp bạn chuẩn bị hồ sơ, giấy tờ liên quan và đại diện bạn trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về di sản không còn tồn tại tại thời điểm phân chia mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ ngay với NPLaw.