Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định của pháp luật dân sự. Do đó, nó không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Vậy Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào? Hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu về vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu trong bài viết dưới đây.

I. Tìm hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên.

Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu khi không có một trong các điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ; các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu và hoàn trả tài sản cho nhau. Bên có lỗi gây vô hiệu có thể phải bồi thường thiệt hại. Tòa án có thẩm quyền tuyên bố giao dịch vô hiệu khi vi phạm luật định.

II. Quy định pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Căn cứ theo Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

  • Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. 

Theo đó, tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 quy định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

  • Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
  • Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
  • Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
  • Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Theo đó, khi không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự mà không có quy định khác thì giao dịch đó được coi là vô hiệu. 

2. Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào?

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. 

Căn cứ quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 thì giao dịch dân sự vô hiệu khi không đáp ứng đủ có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

Theo đó, Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện nêu trên thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự 2015 có quy định khác.

3. Hậu quả pháp lý khi giao dịch dân sự vô hiệu?

Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 thì Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

  • Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
  •  Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

  • Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
  • Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
  • Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

III. Giải đáp một số câu hỏi về giao dịch dân sự vô hiệu

1. Cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu?

Theo Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

  • Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
  • Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

  • Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.

2. Thời hạn tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu?

Tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

- Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125); do bị nhầm lẫn (Điều 126); do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127); do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128); do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129) thì Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, kể từ ngày:

  • Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
  • Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
  • Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
  • Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;
  • Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức.

- Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.

- Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123); do giả tạo (Điều 124) thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

3. Xảy ra tranh chấp do giao dịch dân sự vô hiệu thì xử lý thế nào?

Khi xảy ra tranh chấp do giao dịch dân sự vô hiệu, các bên có thể giải quyết theo các cách sau:

Tự thương lượng, hòa giải:

  • Khi phát sinh tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu, điều đầu tiên mà pháp luật khuyến khích là các bên tự ngồi lại với nhau để thương lượng, tìm ra giải pháp hòa giải hợp lý. 
  • Việc hòa giải giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và duy trì mối quan hệ giữa các bên.

Yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Nếu các bên không thể tự thương lượng, hòa giải thành công, một hoặc các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp.
  • Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sẽ xem xét các căn cứ pháp lý, thu thập chứng cứ để xác định giao dịch dân sự đó có vô hiệu hay không.

Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

  • Nếu Tòa án xác định giao dịch dân sự có một trong các căn cứ vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự (như vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, giả tạo, do người không có năng lực hành vi dân sự thực hiện, bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, không tuân thủ hình thức...), Tòa án sẽ ra bản án hoặc quyết định tuyên bố giao dịch đó vô hiệu theo quy định.

4. Khi nào một giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của pháp luật?

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, một giao dịch dân sự sẽ bị coi là vô hiệu trong các trường hợp sau:

  • Vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123):
  • Điều cấm của luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
  • Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung của cộng đồng, được thừa nhận và tôn trọng.  
  • Giả tạo (Điều 124):
  • Giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác.
  • Giao dịch được xác lập để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
  • Ví dụ: Lập hợp đồng mua bán nhà với giá thấp hơn giá thực tế để trốn thuế.
  • Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi xác lập, thực hiện (Điều 125):
  • Giao dịch dân sự do người chưa đủ sáu tuổi xác lập, thực hiện.
  • Giao dịch dân sự do người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi xác lập, thực hiện không được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  • Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự.
  • Giao dịch dân sự của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người giám hộ đồng ý, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
  • Do bị nhầm lẫn (Điều 126): Trường hợp một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung hoặc về đối tượng của giao dịch dân sự thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
  • Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127):
  • Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.  
  • Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.  
  • Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.  
  • Do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128): Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.  
  • Không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129): Giao dịch dân sự vi phạm quy định bắt buộc về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp quy định khác.
  • Do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện (Điều 142): Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau:
  • Người được đại diện đã chấp nhận giao dịch.  
  • Người được đại diện biết nhưng không phản đối trong một thời hạn hợp lý.
  • Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người thứ ba không biết hoặc không thể biết về việc người đại diện xác lập giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.
  • Do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 122): Giao dịch dân sự có đối tượng không thể thực hiện được ngay từ khi giao kết thì vô hiệu.

5. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là gì?

Theo Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2015 thì hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là:

  • Không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Giao dịch vô hiệu coi như chưa từng tồn tại.
  • Khôi phục lại tình trạng ban đầu: Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
  • Hoàn trả bằng tiền nếu không hoàn trả được bằng hiện vật: Nếu không thể trả lại chính tài sản, phải trả bằng tiền theo giá trị tại thời điểm nhận.
  • Bồi thường thiệt hại: Bên có lỗi gây ra giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại thực tế cho bên kia (nếu có thiệt hại và có lỗi).

6. Giao dịch dân sự vô hiệu có thể được khắc phục để có hiệu lực không?

Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu có thể được khắc phục để có hiệu lực:

  • Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129):
  •  
  • Nếu giao dịch dân sự lẽ ra phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực nhưng lại vi phạm về hình thức, thì theo khoản 2 Điều 129, Tòa án có thể quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó nếu các bên đã thực hiện phần lớn nghĩa vụ trong giao dịch.
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện (Điều 142) thì Giao dịch này có thể có hiệu lực nếu:
  • Người được đại diện chấp nhận giao dịch sau khi người đại diện vượt quá thẩm quyền.
  • Người được đại diện biết nhưng không phản đối trong một thời hạn hợp lý.
  • Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người thứ ba không biết hoặc không thể biết về việc người đại diện xác lập giao dịch vượt quá phạm vi đại diện.
  • Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126):
  • Theo khoản 2 Điều 126, giao dịch dân sự không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được. 

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về giao dịch dân sự vô hiệu

Một trong những Công ty Luật cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu là Công ty Luật TNHH Ngọc Phú. Khi sử dụng dịch vụ của chúng tôi, quý khách sẽ được hỗ trợ tận tình bởi các chuyên viên và Luật sư có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm dày dặn. Quý khách sẽ được nghe ý kiến tư vấn về quy trình giải quyết các vấn đề liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu. Kế đó, quý khách có thể đưa ra quyết định lựa chọn Luật sư của NPLaw bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc là người đại diện theo ủy quyền khi tham gia tố tụng.

Trường hợp bạn có nhu cầu cần được hỗ trợ về tư vấn pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có thể liên hệ ngay với NPLaw để được kịp thời hỗ trợ thông qua thông tin liên hệ sau: