Hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt là nghĩa vụ của người thực hiện hành vi vi phạm. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Thực trạng liên quan đến hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Thực trạng hoàn trả tài sản chiếm đoạt hiện nay có chuyển biến tích cực nhờ sự chỉ đạo sát sao trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức. Tỷ lệ thu hồi tài sản đã tăng đáng kể nhưng chưa tương xứng với mức độ thiệt hại, do tài sản bị tẩu tán, che giấu hoặc thay đổi giá trị do biến động. Việc xác định đúng giá trị tài sản còn phức tạp, đòi hỏi quy trình tố tụng chặt chẽ.

II. Khái niệm về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Để hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.

1. Hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt là gì?

Theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản như sau:

  • Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
  • Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025) về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các tội xâm phạm quyền sở hữu liên quan, có thể hiểu chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.

Như vậy, hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt là việc người có hành vi chiếm đoạt tài sản trái pháp luật phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu, sử dụng, quản lý tài sản.

2. Hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt có khác gì với bồi thường thiệt hại?

- Theo khoản 1, 2 Điều 179 Bộ luật dân sự 2015 quy định chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.

- Theo Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ hoàn trả như sau:

  • Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.
  • Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

- Theo Điều 13 và Điều 360 Bộ luật dân sự 2015 quy định cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Theo đó, có thể hiểu bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại.

Dựa theo các quy định vừa nêu, hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại là hai hình thức trách nhiệm dân sự nhằm khôi phục tình trạng ban đầu của bên bị vi phạm, nhưng có những khác biệt chủ yếu sau:

- Bản chất và mục đích:

  • Hoàn trả tài sản: Là việc chủ thể đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật phải trả lại chính vật đặc định hoặc tài sản cùng loại đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hợp pháp. Mục đích là khôi phục quyền chiếm hữu thực tế đối với tài sản.
  • Bồi thường thiệt hại: Là việc bên gây thiệt hại phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần do hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản gây ra. Mục đích là bù đắp giá trị bị mất mát.

- Điều kiện phát sinh:

  • Hoàn trả tài sản: Chỉ cần có hành vi chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
  • Bồi thường thiệt hại: Thường yêu cầu có 4 yếu tố: Có thiệt hại thực tế xảy ra; Có hành vi trái pháp luật; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại; Có lỗi (trừ một số trường hợp pháp luật quy định khác) theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.

Tóm lại, hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt có sự khác biệt nêu trên so với bồi thường thiệt hại.

3. Hoàn trả tài sản có áp dụng trong cả trách nhiệm dân sự và hình sự không?

- Theo Điều 580 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản hoàn trả như sau:

  • Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được.
  • Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.

- Theo Điều 46 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định các biện pháp tư pháp, trong đó:

  • Biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:

a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

c) Bắt buộc chữa bệnh.

  • Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội bao gồm:

a) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;

b) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi;

c) Khôi phục lại tình trạng ban đầu;

d) Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

- Đồng thời theo Điều 48 Bộ luật này cũng quy định người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Theo đó, có thể thấy nghĩa vụ hoàn trả tài sản được áp dụng trong cả trách nhiệm dân sự và hình sự.

III. Quy định của pháp luật liên quan đến hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Tìm hiểu các quy định về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật?

- Theo Điều 579 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 thì:

  • Phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản khi người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật. Trường hợp không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Phải hoàn trả khoản lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật cho người bị thiệt hại khi người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại.

- Theo Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 quy định người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Vậy, nghĩa vụ hoàn trả tài sản chiếm hữu, sử dụng không có căn cứ pháp luật được thực hiện như quy định trên.

2. Chủ thể nào có quyền yêu cầu hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt?

Theo Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017), chủ thể có quyền yêu cầu hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt gồm:

  • Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản và người chiếm hữu hợp pháp;
  • Chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp trong trường hợp người phạm tội chiếm đoạt tài sản.

Theo quy định này, các chủ thể trên có quyền yêu cầu hoàn trả tài sản bị chiếm đoạt.

3. Pháp luật quy định thế nào về việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản bị chiếm đoạt?

Theo Điều 581 Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi, lợi tức như sau:

  • Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
  • Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

- Theo Điều 236 Bộ luật dân sự 2015, trường hợp người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Có thể thấy, pháp luật quy định về việc hoàn trả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản bị chiếm đoạt như trên.

4. Pháp luật quy định như thế nào về việc hoàn trả tài sản khi người phạm tội đã chết?

- Theo khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

- Theo Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi các năm 2017, 2025) cũng quy định người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

- Theo Điều 615 Bộ luật dân sự 2015, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như sau:

  • Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
  • Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.

Do đó, khi người phạm tội chết mà có tài sản để lại thì những người thừa kế phải có trách nhiệm hoàn trả tài sản và bồi thường thiệt hại nếu có trong phạm vi phần di sản họ nhận được.

IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Để hiểu rõ hơn các quy định về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Trường hợp tài sản đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc thì nghĩa vụ hoàn trả được thực hiện ra sao?

Theo khoản 2, 3, 4 Điều 580 Bộ luật dân sự 2015 quy định khi tài sản đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc thì nghĩa vụ hoàn trả được thực hiện như sau:

  • Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.

Tóm lại, trường hợp tài sản đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc thì nghĩa vụ hoàn trả được thực hiện bằng cách đền bù bằng tiền hoặc vật cùng loại theo quy định trên.

2. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản có được thực hiện song song với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không?

- Theo Điều 579 Bộ luật dân sự 2015, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó. Trường hợp đối với tài sản là khoản lợi thu được thì người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại phải hoàn trả khoản lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

- Theo Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi 2017), người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Như vậy, nghĩa vụ hoàn trả tài sản có thể được thực hiện song song với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.

3. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận giữa các bên không?

Về nguyên tắc người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó. Hoặc người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi các năm 2017, 2025).

Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Theo đó, pháp luật đề cao quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể, trừ trường hợp vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Chẳng hạn như các bên có thể thỏa thuận các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả như:

  • Phương thức hoàn trả: Các bên có quyền thỏa thuận về cách thức trả lại tài sản, chẳng hạn nếu tài sản là vật cùng loại bị mất hoặc hư hỏng, thông thường phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, nhưng các bên có thể thỏa thuận khác (như đổi sang một loại tài sản khác có giá trị tương đương).
  • Thời hạn thực hiện: Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện việc hoàn trả trước hoặc sau thời hạn ấn định dựa trên sự thống nhất giữa các bên.
  • Thỏa thuận về giá trị: Trong các trường hợp hoàn trả do chiếm hữu không có căn cứ, các bên có thể thỏa thuận giá trị hoa lợi, lợi tức thu được.

Qua phân tích trên, nghĩa vụ hoàn trả tài sản có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận giữa các bên.

4. Việc tự nguyện hoàn trả tài sản có được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?

Theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Khoản 2 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP thì người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Do đó, trường hợp người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả bằng cách tự nguyện hoàn trả tài sản thì có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

5. Trường hợp nhiều người cùng chiếm đoạt tài sản thì nghĩa vụ hoàn trả được xác định như thế nào?

Trong trường hợp nhiều người cùng chiếm đoạt tài sản, nghĩa vụ hoàn trả được xác định theo nguyên tắc nghĩa vụ liên đới theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thể:

  • Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
  • Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.
  • Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
  • Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.

Kết luận lại, trường hợp nhiều người cùng chiếm đoạt tài sản thì nghĩa vụ hoàn trả thường được xác định theo nguyên tắc liên đới trách nhiệm. Tất cả những người cùng chiếm đoạt phải chịu trách nhiệm chung trong việc hoàn trả tài sản và chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu bất kỳ ai trong nhóm người chiếm đoạt phải hoàn trả toàn bộ hoặc một phần tài sản.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.