Thực tế cho thấy nhiều người lao động không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải, dẫn đến tranh chấp về quyền lợi sau khi chấm dứt hợp đồng.
I. Thực trạng liên quan đến không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải
Trong thực tế, tình trạng người lao động không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải diễn ra khá phổ biến, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc những đơn vị chưa tuân thủ đầy đủ pháp luật lao động. Việc này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi tài chính của người lao động mà còn làm gia tăng nguy cơ tranh chấp lao động.
1. Doanh nghiệp cho rằng sa thải thì không phải trả trợ cấp
Nhiều doanh nghiệp hiểu chưa đúng quy định pháp luật và cho rằng cứ “sa thải” là không phải chi trả trợ cấp thôi việc. Trên thực tế, theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, không phải mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng đều được hưởng trợ cấp thôi việc, nhưng cũng không phải mọi trường hợp sa thải đều đương nhiên bị mất quyền lợi này. Việc có được hưởng hay không còn phụ thuộc vào căn cứ chấm dứt hợp đồng và thời gian làm việc chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
2. Không tính đúng thời gian làm việc để chi trả
Một số doanh nghiệp không xác định chính xác thời gian làm việc thực tế của người lao động để tính trợ cấp thôi việc. Có trường hợp chỉ tính thời gian theo hợp đồng gần nhất mà bỏ qua các lần gia hạn hoặc hợp đồng trước đó, dẫn đến việc chi trả thiếu hoặc không chi trả.
3. Chậm thanh toán hoặc không thanh toán dù đủ điều kiện
Có những trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc nhưng doanh nghiệp:
- Trì hoãn thanh toán sau khi chấm dứt hợp đồng;
- Không phản hồi yêu cầu thanh toán;
- Cố tình né tránh nghĩa vụ chi trả.
4. Người lao động chưa hiểu rõ quyền lợi của mình
Một thực tế đáng chú ý là nhiều người lao động không nắm rõ quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc, đặc biệt là sự khác biệt giữa trợ cấp thôi việc và trợ cấp thất nghiệp. Điều này khiến họ không kịp thời yêu cầu doanh nghiệp chi trả hoặc không biết cách bảo vệ quyền lợi khi bị từ chối.

Thực trạng không nhận được trợ cấp thôi việc khi bị sa thải cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa quy định pháp luật và việc thực thi trong thực tế.
II. Khái niệm về không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải
Để xác định việc không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải có đúng pháp luật hay không, cần hiểu rõ bản chất của trợ cấp thôi việc, điều kiện hưởng và các trường hợp bị loại trừ theo Bộ luật Lao động 2019. Không phải mọi trường hợp bị sa thải đều được hưởng trợ cấp thôi việc, nhưng cũng không phải mọi trường hợp đều đương nhiên bị mất quyền lợi này.
1. Không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải là gì?
“Không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải” được hiểu là trường hợp người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động không được doanh nghiệp chi trả khoản tiền trợ cấp thôi việc, dù cho rằng mình đủ điều kiện hưởng theo luật định.
2. Việc không nhận được trợ cấp thôi việc khi bị sa thải phát sinh từ nguyên nhân nào?
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người lao động không được chi trả trợ cấp thôi việc, bao gồm:
- Sa thải hợp pháp theo hình thức kỷ luật, thuộc trường hợp không được hưởng trợ cấp;
- Người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong toàn bộ thời gian làm việc, nên không còn thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc;
- Doanh nghiệp hiểu sai hoặc áp dụng sai quy định pháp luật;
- Hai bên không xác định đúng thời gian làm việc thực tế để tính trợ cấp;
- Doanh nghiệp cố tình không thực hiện nghĩa vụ chi trả.
Vì vậy, cần xem xét cụ thể căn cứ chấm dứt hợp đồng và thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp để xác định quyền lợi.
3. Không nhận được trợ cấp thôi việc khi bị sa thải có áp dụng đối với mọi loại hợp đồng lao động không?
Quy định về trợ cấp thôi việc áp dụng cho các loại hợp đồng lao động theo pháp luật, bao gồm hợp đồng xác định thời hạn và không xác định thời hạn. Tuy nhiên, điều kiện hưởng không phụ thuộc vào loại hợp đồng mà phụ thuộc vào:
- Lý do chấm dứt hợp đồng;
- Thời gian làm việc thực tế;
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
Nếu người lao động bị sa thải đúng quy định do vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, thì dù là hợp đồng loại nào, họ cũng không được hưởng trợ cấp thôi việc. Ngược lại, nếu việc chấm dứt hợp đồng trái pháp luật hoặc không phải là sa thải đúng quy định, người lao động có thể được xem xét hưởng quyền lợi tương ứng.

Như vậy, việc không nhận được trợ cấp thôi việc khi bị sa thải không phải lúc nào cũng là hành vi vi phạm pháp luật của doanh nghiệp, mà cần được đánh giá dựa trên căn cứ chấm dứt hợp đồng và điều kiện hưởng theo luật định.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải
Để xác định việc người lao động không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải là đúng hay trái pháp luật, cần căn cứ vào các quy định cụ thể của Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Pháp luật quy định rõ về căn cứ sa thải, điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc và trách nhiệm của doanh nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động.
1. Người lao động vi phạm những lỗi gì sẽ bị kỷ luật sa thải?
Theo Điều 125 Bộ luật Lao động 2019, hình thức kỷ luật sa thải được áp dụng trong các trường hợp nghiêm trọng như:
- Trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
- Tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;
- Gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp;
- Tái phạm hành vi vi phạm kỷ luật khi chưa được xóa kỷ luật;
- Tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.
Chỉ khi thuộc các trường hợp này và được xử lý đúng trình tự, thủ tục thì việc sa thải mới được coi là hợp pháp.
2. Người lao động bị sa thải có được hưởng trợ cấp thôi việc không?
Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc nếu bị chấm dứt hợp đồng do xử lý kỷ luật sa thải hợp pháp.
Tuy nhiên, nếu việc sa thải bị xác định là trái pháp luật hoặc doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng không đúng căn cứ nhưng gọi là “sa thải”, thì người lao động có thể được xem xét hưởng các khoản bồi thường và quyền lợi liên quan, trong đó có thể bao gồm trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện luật định.
3. Pháp luật lao động quy định trợ cấp thôi việc trong những trường hợp nào?
Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc trong các trường hợp chấm dứt lao động sau:
- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
- Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.
Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.
4. Doanh nghiệp có thể bị xử phạt như thế nào nếu không chi trả trợ cấp thôi việc đúng quy định khi sa thải người lao động?
Căn cứ khoản 2 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, hành vi người sử dụng lao động không trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền như sau:
- Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
- Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
- Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
- Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
- Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Lưu ý: căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Bên cạnh đó người sử dụng lao động còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người lao động còn phải trả đủ tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền chưa trả tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải
Trong thực tế, nhiều người lao động còn lúng túng khi rơi vào tình trạng không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải. Dưới đây là những câu hỏi phổ biến kèm theo phân tích chi tiết để giúp người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật lao động hiện hành.
1. Người lao động cần lưu ý những rủi ro pháp lý nào khi yêu cầu trợ cấp thôi việc trong trường hợp bị sa thải?
Khi yêu cầu trợ cấp thôi việc, người lao động cần xác định rõ việc mình bị sa thải có thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp hay không. Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải không thuộc diện được hưởng trợ cấp thôi việc.
Rủi ro pháp lý có thể phát sinh nếu:
- Không đủ điều kiện hưởng trợ cấp nhưng vẫn yêu cầu chi trả;
- Không có căn cứ chứng minh thời gian làm việc thực tế chưa tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
- Hết thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động.
Vì vậy, trước khi khiếu nại hoặc khởi kiện, người lao động cần rà soát hợp đồng lao động, quyết định sa thải và quá trình đóng bảo hiểm xã hội để xác định chính xác quyền lợi của mình.
2. Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng khi bị sa thải có được hưởng trợ cấp thôi việc không?
Theo khoản 1 Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc là người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động.
Do đó, nếu thời gian làm việc thực tế chưa đủ 12 tháng thì người lao động sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc, kể cả trong trường hợp chấm dứt hợp đồng đúng luật. Tuy nhiên, người lao động vẫn có thể được thanh toán các khoản khác như tiền lương còn thiếu, tiền phép năm chưa nghỉ, hoặc các quyền lợi theo thỏa ước lao động tập thể (nếu có).
3. Trường hợp doanh nghiệp chậm hoặc cố tình không chi trả trợ cấp thôi việc thì người lao động phải làm gì?
Nếu thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc mà doanh nghiệp không chi trả hoặc chậm chi trả, người lao động có thể thực hiện các bước sau:
- Gửi yêu cầu thanh toán bằng văn bản đến doanh nghiệp;
- Yêu cầu hòa giải viên lao động hỗ trợ giải quyết tranh chấp;
- Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu hòa giải không thành hoặc thuộc trường hợp không bắt buộc hòa giải.
Ngoài ra, doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ thanh toán có thể bị xử phạt vi phạm hành chính và buộc trả đủ tiền cùng khoản lãi do chậm trả theo quy định.
4. Người lao động có thể yêu cầu công đoàn cơ sở hỗ trợ khi không được trả trợ cấp thôi việc không?
Có. Công đoàn cơ sở có chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Khi không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải, người lao động có thể đề nghị công đoàn:
- Làm việc với người sử dụng lao động để yêu cầu giải quyết;
- Tham gia quá trình hòa giải tranh chấp lao động;
- Hỗ trợ pháp lý hoặc giới thiệu luật sư để bảo vệ quyền lợi tại Tòa án.
Sự tham gia của công đoàn thường giúp tăng tính khách quan và tạo áp lực pháp lý buộc doanh nghiệp tuân thủ quy định.
5. Trường hợp người lao động bị sa thải nhưng sau đó được nhận lại làm việc thì trợ cấp thôi việc được giải quyết ra sao?
Nếu quyết định sa thải bị xác định là trái pháp luật và người lao động được nhận lại làm việc, thì quan hệ lao động được khôi phục. Khi đó:
- Người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc vì quan hệ lao động chưa chấm dứt hợp pháp;
- Doanh nghiệp phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội cho thời gian người lao động không được làm việc;
- Có thể phải bồi thường thêm theo quy định nếu gây thiệt hại cho người lao động.
Trong trường hợp hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng sau khi nhận lại làm việc, việc chi trả trợ cấp thôi việc sẽ được xem xét theo điều kiện và thời gian làm việc thực tế.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải
Vấn đề liên quan đến không nhận được trợ cấp thôi việc theo quy định khi bị sa thải thường đòi hỏi phải đánh giá chính xác căn cứ pháp lý, hồ sơ lao động và quá trình tham gia bảo hiểm của người lao động. Việc tự xử lý có thể dẫn đến thiếu sót chứng cứ hoặc áp dụng sai quy định pháp luật.
Khi tìm đến luật sư tại NPLaw, khách hàng sẽ được:
- Phân tích cụ thể trường hợp có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc hay không;
- Soạn thảo văn bản yêu cầu, khiếu nại đúng quy định;
- Đại diện thương lượng hoặc tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi hợp pháp;
- Tư vấn chiến lược giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hạn chế rủi ro và chi phí.
Sự hỗ trợ kịp thời từ luật sư có thể giúp người lao động bảo vệ tối đa quyền lợi của mình và đảm bảo việc áp dụng pháp luật được thực hiện đúng quy định.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.