Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung là một trong những vấn đề phổ biến trong tranh chấp chia di sản. Bài viết này, sẽ tìm hiểu quy định pháp luật về mâu thuẫn về phân chia tài sản chung và giải đáp một số thắc mắc liên quan, từ đó, giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

I. Thực trạng mâu thuẫn về phân chia tài sản chung trong giai đoạn hiện nay

Tài sản là một trong các vấn đề thường phát sinh tranh chấp do giá trị mà nó đem lại, một trong các trường hợp tranh chấp thường gặp hiện nay là mâu thuẫn về phân chia tài sản chung. Các vụ việc liên quan đến phân chia tài sản chung thường chiếm tỷ lệ khá cao trong các vụ án tranh chấp tại tòa án, bên cạnh đó, vấn đề áp dụng pháp luật để giải quyết cũng còn nhiều mâu thuẫn và bất cập, không bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

II. Tìm hiểu về mâu thuẫn về phân chia tài sản chung

Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung thường xảy ra khi các bên không đạt được thỏa thuận về việc phân chia tài sản, có xung đột về quyền và lợi ích. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, NPLaw sẽ phân tích qua nội dung bên dưới.

1. Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung có thể xảy ra trong những tình huống nào?

Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung có thể xảy ra trong nhiều tình huống khác nhau, khi các bên không thống nhất được quyền sở hữu, giá trị, hoặc cách phân chia tài sản. Dưới đây là một số tình huống phổ biến dễ dẫn đến mâu thuẫn:

  • Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân: Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình, chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh.
  • Chia tài sản chung trong hộ gia đình, dòng họ: Nhà đất đứng tên ông bà, cha mẹ nhưng nhiều con cháu cùng sinh sống, cải tạo, đóng góp vào tài sản. Khó xác định công sức đóng góp, quyền lợi cụ thể của từng người dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích khi phân chia.
  • Chia tái sản chung trong việc góp vốn đầu từ kinh doanh: Mâu thuẫn xảy ra khi các bên góp vốn không thỏa thuận rõ ràng từ đầu về tỷ lệ góp, quyền sở hữu, chia lợi nhuận; một bên quản lý tài sản, tài chính không minh bạch hoặc một hoặc vài bên muốn rút vốn, trong khi những người còn lại không đồng ý.

2. Có những loại tài sản nào thường phát sinh mâu thuẫn về phân chia tài sản chung?

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Khi phân chia tài sản chung một số loại tài sản thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do có giá trị lớn, khó xác định quyền sở hữu. Dưới đây là những loại tài sản phổ biến nhất thường gây tranh chấp:

  • Bất động sản: Đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng, thường là loại tài sản có giá trị lớn, phức tạp khi phân chia.
  • Động sản có giá trị lớn: Phương tiện giao thông (xe máy, xe ô tô,...), tàu, thuyền, trang sức, đá quý, đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật,...
  • Chứng khoán, cổ phần/vốn góp, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản.

III. Các quy định pháp luật có liên quan đến mâu thuẫn về phân chia tài sản chung

Tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến mâu thuẫn về phân chia tài sản chung là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh quy định pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi thì việc hiểu và áp dụng đúng các quy định không phải là điều dễ dàng. 

Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về chủ thể cũng như quy trình thừa kế theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Cách xác định giá trị tài sản trong mâu thuẫn về phân chia tài sản chung là gì?

Cách xác định giá trị tài sản chung khi phân chia tùy theo vụ việc tranh chấp, tuy nhiên về cơ bản việc xác định giá trị tài sản như sau:

Thông qua thỏa thuận giữa các bên: Dựa trên nguyên tắc chung của quan hệ dân sự đó là sự tự do, tự nguyện, bình đẳng trong thỏa thuận theo Điều 3 Bộ luật dân sự 2015, các bên khi mâu thuẫn có thể tự nguyện thỏa thuận về giá trị của tài sản chung. Nếu hai bên đồng ý với nhau về giá trị của tài sản thì Tòa án sẽ dựa trên sự thỏa thuận này để thực hiện việc chia tài sản.

Thông qua bên thứ ba: Trường hợp không thể tự thỏa thuận về giá trị của tài sản, các bên có thể cùng thống nhất lựa chọn một tổ chức định giá độc lập để xác định giá trị của tài sản. Tổ chức định giá được lựa chọn có thể là một công ty thẩm định giá hoặc là một tổ chức có thẩm quyền trong việc thẩm định giá.

Thông qua Tòa án: Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
  • Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;
  • Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

Sau khi có kết quả định giá từ Hội đồng thẩm định giá, Tòa án sẽ căn cứ vào kết quả này để chia tài sản. Tòa án có thể yêu cầu tổ chức định giá bổ sung hoặc đưa ra phán quyết dựa trên kết quả định giá.

2. Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung có thể được hòa giải không?

Theo Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải;

c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính;

d) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.

Đồng thời, căn cứ tại điểm a, b,c khoản 1 Điều 5 Nghị định 15/2014/NĐ-CP, Hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

  • Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);
  • Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;
  • Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn.

Như vậy, mâu thuẫn liên quan về phân chia tài sản chung có thể được hòa giải theo quy định nêu trên.

3. Thời gian giải quyết mâu thuẫn về phân chia tài sản chung thường kéo dài bao lâu?

Thời gian giải quyết mâu thuẫn về phân chia tài sản chung tùy thuộc vào phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa các bên. Đối với phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án, thời gian giải quyết một vụ án phụ thuộc rất nhiều vào tính chất phức tạp của vụ việc. Tuy nhiên, pháp luật có quy định khung thời gian giải quyết tranh chấp tại Tòa án đối với vụ án dân sự sơ thẩm như sau:

  • Thời hạn thụ lý vụ án và gửi thông báo đến các bên: Tại Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn thông thường để thẩm phán thụ lý vụ án là 07 ngày, còn thời hạn thông báo bằng văn bản cho các bên sẽ là 03 ngày. Tức tổng thời hạn sẽ là 10 ngày.
  • Thời hạn đương sự gửi ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn: Theo khoản 1 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn giải quyết thông thường khi đương sự gửi ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn sẽ là 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.
  • Thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử: Căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án đối với những tranh chấp về dân sự, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài sẽ là 04 tháng.
  • Thời hạn xét xử vụ án dân sự sơ thẩm: Cũng theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Do đó, thời hạn xét xử sơ thẩm vụ án thông thường sẽ là 01 tháng.

Như vậy, tổng thời gian giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm sẽ là 5 - 6 tháng, tính từ ngày nhận đơn khởi kiện đến ngày mở phiên tòa.

4. Những sai lầm thường gặp khi giải quyết mâu thuẫn về phân chia tài sản chung là gì?

Các bên thường mắc phải những sai lầm thường gặp khi giải quyết mâu thuẫn về phân chia tài sản chung như sau:

Thiếu sót trong việc xác định tài sản

  • Không xác định rõ nguồn gốc tài sản: Không phân biệt rạch ròi đâu là tài sản chung (được tạo lập trong hôn nhân/di sản chung của vợ chồng) và đâu là tài sản riêng (thừa kế riêng, tặng cho riêng, hoặc có trước hôn nhân/trước thời điểm mở thừa kế).
  • Bỏ sót hoặc không kê khai đầy đủ tài sản: Một bên cố tình che giấu, không khai báo các tài sản có giá trị (ví dụ: tiền mặt, sổ tiết kiệm, vàng, cổ phần, hoặc tài sản đang đứng tên người khác).

Sai lầm trong Thu thập và Đánh giá chứng cứ

  • Chứng cứ không hợp lệ: Không cung cấp được các giấy tờ hợp pháp như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ đỏ, giấy đăng ký xe, chứng từ giao dịch, hoặc hợp đồng tặng cho/chuyển nhượng.
  • Di chúc không hợp pháp: di chúc không được công chứng, chứng thực, hoặc vi phạm các quy định về hình thức, nội dung theo pháp luật.

Định giá tài sản không chính xác hoặc không công bằng

  • Các bên tự thỏa thuận với một mức giá không phản ánh giá trị thị trường thực tế tại thời điểm phân chia (đặc biệt đối với bất động sản luôn biến động giá), dẫn đến bất lợi cho một bên.
  • Không tính đến công sức đóng góp: Trong tranh chấp ly hôn, các bên thường bỏ qua các yếu tố như không tính đến công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình hoặc công sức giữ gìn, bảo quản, duy trì, cải tạo tài sản.

VI. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến mâu thuẫn về phân chia tài sản chung

Để quý bạn đọc hiểu hơn về mâu thuẫn về phân chia tài sản chung, NPLaw tổng hợp các thắc mắc thường gặp và đưa ra giải đáp ở phần dưới đây: 

1. Nếu trường hợp tài sản tăng giá trị trong thời gian tranh chấp, mâu thuẫn về phân chia tài sản chung được xử lý thế nào?

Theo nguyên tắc chung là giá trị tài sản được tính tại thời điểm giải quyết tranh chấp. Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án.

Hoặc Tòa án sẽ căn cứ vào giá thị trường thực tế của tài sản tại thời điểm đưa vụ án ra xét xử hoặc tại thời điểm Tòa án quyết định định giá tài sản (thông qua Hội đồng định giá hoặc trưng cầu tổ chức thẩm định giá) theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2. Trong hôn nhân, mâu thuẫn về phân chia tài sản chung phát sinh khi một bên đầu tư tài sản riêng vào tài sản chung sẽ xử lý ra sao?

Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

  • Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
  • Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, khi tài sản riêng được nhập vào tài sản chung, nó trở thành tài sản chung và được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 hoặc khi ly hôn theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

3. Trường hợp di sản chưa chia xong, mâu thuẫn về phân chia tài sản chung sẽ ảnh hưởng thế nào đến quá trình quản lý tài sản?

Theo Điều 617 Bộ luật dân sự 2015, người quản lý di sản có nghĩa vụ chung sau đây:

a) Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

b) Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;

c) Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;

d) Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;

đ) Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

Như vậy, khi di sản chưa chia xong, tranh chấp hoặc mâu thuẫn về tài sản chung khiến mọi hoạt động liên quan đến quyền định đoạt tài sản bị ngưng trệ cho đến khi Tòa án có bản án hoặc quyết định về di sản đang được phân chia.

4. Khi một bên cố tình kéo dài thời gian, giải quyết mâu thuẫn về phân chia tài sản chung sẽ xử lý ra sao?

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn liên quan đến vấn đề phân chia tài sản chung, một trong các bên, thường là bên bị kiện, cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ việc với nhiều mục đích khác nhau. Khi đương sự cố tình kéo dài thời gian giải quyết vụ án, Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp để đảm bảo tiến độ và hiệu quả giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật. Dưới đây là một số cách xử lý:

Theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp để xử lý, cụ thể:

  • Nếu có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì phiên tòa sơ thẩm vẫn diễn ra bình thường
  • Nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa
  • Trường hợp vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý tùy vào từng đối tượng và trường hợp cụ thể theo như quy định nêu trên.

Căn cứ theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

  • Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
  • Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa.
  • Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
  • Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Ngoài ra, theo Điều 11 Pháp lệnh 02/2022/UBTVQH15 quy định xử phạt về hành vi vi phạm quy định về sự có mặt theo giấy triệu tập, theo đó, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người tham gia tố tụng đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng.

5. Mâu thuẫn về phân chia tài sản chung có thể bị đình chỉ giải quyết trong trường hợp nào?

Theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:

  • Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
  • Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
  • Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
  • Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
  • Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.

Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

  • Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;
  • Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 mà Tòa án đã thụ lý;
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:

  • Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
  • Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;
  • Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Như vậy, mâu thuẫn về phân chia tài sản chung có thể bị đình chỉ giải quyết trong trường hợp nêu trên.

V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến mâu thuẫn về phân chia tài sản chung?

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về mâu thuẫn về phân chia tài sản chung mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.