Nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Những lĩnh vực giao dịch nào (bất động sản, mua bán xe, nhận thầu công trình, xuất khẩu lao động...) ghi nhận tỷ lệ tội phạm này cao nhất?

Hành vi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn ghi nhận tỷ lệ tội phạm cao nhất trong lĩnh vực giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản (mua bán nhà đất). Ngoài ra, loại tội phạm này cũng xuất hiện phổ biến trong một số lĩnh vực thương mại khác có giá trị tài sản giao dịch lớn như giao dịch mua bán xe ô tô và phương tiện vận tải, giao dịch đặt mua hàng hóa xuất nhập khẩu, nguyên vật liệu số lượng lớn, nhận thầu công trình hoặc giao dịch dịch vụ lữ hành, đặt phòng, vé máy bay dịp cao điểm.

II. Khái niệm và nhận diện về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn

Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.

1. Hành vi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn được định nghĩa và phân loại vào nhóm tội danh nào?

- Theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật dân sự 2015, đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Theo đó, có thể hiểu hành vi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn là hành vi vi phạm pháp luật, trong đó bên nhận cọc với chủ đích lừa dối, lợi dụng lòng tin của bên đặt cọc nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền đặt cọc với số lượng lớn và sau đó bỏ trốn.

- Hành vi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn là dấu hiệu của tội phạm hình sự xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Tùy thuộc vào thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt, hành vi này sẽ cấu thành một trong hai tội danh được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) gồm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật này và Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật này.

2. Đâu là những dấu hiệu hành vi cho thấy một đối tượng ngay từ đầu đã có mục đích lừa đảo thông qua việc nhận đặt cọc?

Những dấu hiệu hành vi cho thấy một đối tượng ngay từ đầu đã có mục đích lừa đảo thông qua việc nhận đặt cọc gồm:

  • Thúc ép thời gian và tạo áp lực tâm lý: Đối tượng tạo áp lực lên người mua để ép phải chuyển cọc ngay lập tức mà không cho người mua có thời gian xác minh thông tin.
  • Đưa ra mức giá thấp hơn giá thị trường: Sản phẩm hoặc dịch vụ được rao bán có giá trị cao (như bất động sản, ô tô,..) nhưng lại được chào bán với mức giá rẻ hơn rất nhiều so với mặt bằng chung thị trường.
  • Cố tình che giấu hoặc mập mờ về pháp lý: Khi được yêu cầu cung cấp giấy tờ gốc, sổ đỏ hoặc hợp đồng ủy quyền hợp pháp, đối tượng thường lấy lý do trì hoãn (đang đi công tác, giấy tờ đang thế chấp, v.v.) hoặc chỉ cung cấp các bản chụp/photo không có công chứng.
  • Bất thường trong phương thức nhận tiền: Yêu cầu chuyển trước 50% đến 70% giá trị tài sản dù chưa có hợp đồng. Tài khoản nhận tiền cọc mang tên cá nhân thay vì tên doanh nghiệp/công ty, hoặc fanpage/website bán hàng vừa mới được tạo, không có địa chỉ văn phòng thực tế hoặc thông tin liên hệ mơ hồ.

Tóm lại, những dấu hiệu hành vi trên cho thấy một đối tượng ngay từ đầu đã có mục đích lừa đảo thông qua việc nhận đặt cọc.

3. Việc "bỏ trốn" được nhận diện dựa trên những tiêu chí cụ thể nào về mặt thực tế và pháp lý?

Việc "bỏ trốn" được nhận diện dựa trên những tiêu chí cụ thể sau về mặt thực tế và pháp lý:

- Bỏ trốn được hiểu là việc người nhận tiền cọc rời khỏi nơi cư trú hoặc thay đổi toàn bộ thông tin liên lạc nhằm né tránh nghĩa vụ. Trong thực tế, nhiều trường hợp người nhận khóa điện thoại, xóa tài khoản mạng xã hội, chấm dứt liên hệ và không thể hiện thiện chí khắc phục.

- Dưới góc độ pháp lý, hành vi bỏ trốn khi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn là một trong các hành vi cấu thành tội phạm hình sự, cụ thể là Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) và Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025).

  • Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mô tả hành vi dùng thủ đoạn gian dối để làm người khác tin tưởng và giao tài sản cho mình nhằm mục đích chiếm đoạt.
  • Ngược lại, Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) điều chỉnh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong đó người phạm tội nhận tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận, sau đó dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng trả lại tài sản.

Vậy, việc "bỏ trốn" được nhận diện dựa trên những tiêu chí về mặt thực tế và pháp lý như trên.

4. Những điểm bất thường nào trong hợp đồng đặt cọc hoặc giấy biên nhận tiền là dấu hiệu cảnh báo rủi ro cho người mua?

Các điểm bất thường trong hợp đồng đặt cọc hoặc giấy biên nhận tiền là dấu hiệu cảnh báo rủi ro cho người mua gồm:

  • Thỏa thuận trong đặt cọc thường sơ sài, thiếu những nội dung cần thiết: Hợp đồng đặt cọc chỉ quy định nghĩa vụ của hai bên, số tiền cọc, tiền phạt cọc là bao nhiêu chứ không thể hiện các điều kiện, điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán/chuyển nhượng; đến khi chính thức ký hợp đồng thì hai bên không thể thống nhất được nội dung với nhau, từ đó hai bên đổ lỗi cho nhau và không xác định được ai là người vi phạm hợp đồng đặt cọc.
  • Không có công chứng, chứng thực: Lợi dụng quy định rằng giao dịch đặt cọc không bắt buộc phải công chứng, chứng thực nên để cắt giảm chi phí phát sinh, các đối tượng lừa đảo thường yêu cầu 2 bên tự ký kết hợp đồng với nhau. Dẫn tới việc, bên đặt cọc khó có thể xác định được tài sản mua bán/chuyển nhượng có đủ giấy tờ pháp lý, có tranh chấp, có được phép giao dịch, thậm chí là có trên thực tế hay không, bên nhận đặt cọc có đúng là người có quyền nhận tài sản đặt cọc theo quy định.
  • Mức phạt cọc không cân xứng: Hợp đồng chỉ phạt người mua (bên đặt cọc) nếu họ từ chối mua, nhưng không nêu rõ mức đền bù hoặc phạt gấp đôi của bên bán nếu họ đổi ý.
  • Mập mờ pháp lý về quy hoạch và tranh chấp: Hợp đồng không ghi rõ các cam kết về việc đất không có tranh chấp và không nằm trong diện quy hoạch giải tỏa.

Nhìn chung, các bên nên lưu ý các điểm bất thường nêu trên khi giao kết hợp đồng đặt cọc để tranh bị bên nhận cọc nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn.

III. Quy định pháp luật hiện hành về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn

Tìm hiểu các quy định về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Bộ luật Dân sự quy định như thế nào về nghĩa vụ và chế tài phạt cọc khi một bên vi phạm hợp đồng đặt cọc?

- Tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự 2015, quy định về nghĩa vụ và chế tài phạt cọc khi một bên vi phạm hợp đồng đặt cọc như sau:

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Theo Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, quyền, nghĩa vụ của các bên trong đặt cọc như sau:

- Bên đặt cọc:

  • Yêu cầu bên nhận đặt cọc ngừng việc khai thác, sử dụng hoặc xác lập giao dịch dân sự đối với tài sản đặt cọc; thực hiện việc bảo quản, giữ gìn để tài sản đặt cọc không bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;
  • Trao đổi, thay thế tài sản đặt cọc hoặc đưa tài sản đặt cọc tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp được bên nhận đặt cọc đồng ý;
  • Thanh toán cho bên nhận đặt cọc chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc.
  • Chi phí hợp lý quy định tại điểm này là khoản chi thực tế cần thiết, hợp pháp tại thời điểm chi mà trong điều kiện bình thường bên nhận đặt cọc phải thanh toán để đảm bảo tài sản đặt cọc không bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
  • Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật để bên nhận đặt cọc được sở hữu tài sản đặt cọc quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
  • Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

- Bên nhận đặt cọc:

  • Yêu cầu bên đặt cọc chấm dứt việc trao đổi, thay thế hoặc xác lập giao dịch dân sự khác đối với tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên nhận đặt cọc;
  • Sở hữu tài sản đặt cọc trong trường hợp bên đặt cọc vi phạm cam kết về giao kết, thực hiện hợp đồng;
  • Bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc;
  • Không xác lập giao dịch dân sự, khai thác, sử dụng tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên đặt cọc;
  • Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

Tóm lại, nghĩa vụ và chế tài phạt cọc khi một bên vi phạm hợp đồng đặt cọc được pháp luật quy định như trên.

2. Hành vi nhận tiền cọc rồi bỏ trốn cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự?

Hành vi nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn có thể cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) hoặc Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), tùy thuộc vào thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt tài sản là trước hay sau khi ký hợp đồng đặt cọc.

  • Trường hợp cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174): Nếu ý định chiếm đoạt xuất hiện trước khi nhận tiền và người phạm tội dùng thông tin sai sự thật hoặc thủ đoạn gian dối để làm bên kia tin và giao tài sản.
  • Trường hợp cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175): Nếu ngay từ đầu hai bên có thỏa thuận hợp pháp nhưng sau đó người nhận cố tình bỏ trốn hoặc không trả lại tài sản dù có khả năng.

Do đó, hành vi nhận tiền cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân tích như trên.

3. Quy trình, thủ tục nộp đơn tố giác tội phạm khi phát hiện đối tượng ôm tiền đặt cọc bỏ trốn

Theo Điều 145, 146, 147 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định về trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

- Chuẩn bị hồ sơ tố giác tội phạm:

  • Đơn tố giác tội phạm: Viết tay hoặc đánh máy, cần ghi rõ ngày tháng năm; thông tin người tố giác (họ tên, CCCD, địa chỉ, số điện thoại); thông tin đối tượng bị tố giác (nếu biết); tường trình chi tiết diễn biến sự việc (thời gian, địa điểm, số tiền cọc, hành vi ôm tiền bỏ trốn); yêu cầu cơ quan công an khởi tố giải quyết.
  • Chứng cứ kèm theo: Bản sao hợp đồng đặt cọc, biên nhận giao tiền, sao kê tài khoản ngân hàng (nếu chuyển khoản), hình ảnh tin nhắn, ghi âm cuộc gọi trao đổi về việc đặt cọc và dấu hiệu trốn tránh.
  • Giấy tờ tùy thân: Bản sao Căn cước công dân (CCCD) hoặc hộ chiếu.

- Nộp hồ sơ: Nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện chuyển phát nhanh đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Cơ quan có thẩm quyền sẽ lập biên bản tiếp nhận, ghi vào sổ và cung cấp biên bản hoặc giấy chứng nhận đã nhận tin báo cho người tố giác.

- Xác minh nguồn tin: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh, thu thập chứng cứ để làm rõ các nội dung trong đơn.

- Ra quyết định: Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:

  • Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
  • Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
  • Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Có thể thấy, quy trình, thủ tục nộp đơn tố giác tội phạm khi phát hiện đối tượng nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn được thực hiện theo các bước trên.

4. Pháp luật quy định thế nào về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại?

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP như sau:

  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  • Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  • Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Đồng thời tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 có quy định nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Vậy, bên nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn có hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản ngoài việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn phải thực hiện bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bởi có hành vi xâm phạm đến tài sản, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định trên. Và buộc hoàn trả lại toàn bộ số tiền cọc đã chiếm đoạt trái pháp luật cho chủ sở hữu/bị hại.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn

Để hiểu rõ hơn các quy định về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Sau khi giao tiền cọc đất, phát hiện chủ nhà đã bán nhà cho người khác và khóa máy, phải làm gì đầu tiên?

Sau khi giao tiền cọc đất, phát hiện chủ nhà đã bán nhà cho người khác và khóa máy, người mua cần ngay lập tức thu thập, lưu trữ toàn bộ chứng cứ và trình báo cơ quan chức năng có thẩm quyền để nộp đơn tố giác tội phạm. Cụ thể:

  • Tập hợp chứng cứ: Thu thập toàn bộ Giấy đặt cọc, biên lai chuyển tiền/giao nhận tiền mặt, tin nhắn, ghi âm giao dịch và thông tin cá nhân của chủ nhà.
  • Xác minh giao dịch: Đến cơ quan đăng ký đất đai địa phương kiểm tra xem mảnh đất đã được sang tên cho người khác chưa hay đang bị kê biên/tranh chấp.
  • Lưu giữ hiện trạng: Chụp lại toàn bộ các cuộc gọi, tin nhắn gọi không được (khóa máy) hoặc bằng chứng cho thấy chủ nhà cố tình trốn tránh để làm cơ sở tố cáo/tố giác.
  • Gửi đơn tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý theo trình tự thủ tục tại mục III.3 trình bày ở trên.

Theo đó, sau khi giao tiền cọc đất, phát hiện chủ nhà đã bán nhà cho người khác và khóa máy, bên đặt cọc cần thực hiện các thủ tục trên.

2. Hợp đồng đặt cọc chỉ viết tay, không có công chứng thì có thể dùng làm chứng cứ để báo công an được không?

- Căn cứ khoản 1 Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015, pháp luật không quy định rằng hợp đồng đặt cọc đất bắt buộc phải lập thành văn bản hay bắt buộc phải được công chứng, chứng thực hay có người làm chứng.

Do đó, hợp đồng đặt cọc đất viết tay vẫn có giá trị pháp lý nếu đáp ứng điều kiện về chủ thể ký kết và nội dung không trái với quy định của pháp luật.

- Và tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cho nên, trong mọi trường hợp thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Vì vậy, hợp đồng đặt cọc chỉ viết tay, không có công chứng thì có thể dùng làm chứng cứ để báo công an.

3. Có được quyền đến tiếp quản, sử dụng tài sản của đối tượng đã bỏ trốn để trừ vào tiền cọc không?

- Tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Khi bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì có trách nhiệm phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi 2025), cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Và mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được hướng dẫn bởi Điều 5 và Điều 6 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC.

Theo quy định vừa nêu, trường hợp bên nhận đặt cọc bỏ trốn là hành vi vi phạm nghĩa vụ, khi đó bên nhận cọc có trách nhiệm phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc. Tuy nhiên, do đã bỏ trốn, nên trong trường hợp này bên đặt cọc cần phải trình báo cơ quan chức năng về hành vi chiếm đoạt tài sản của bên nhận đặt cọc và khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết.

Như vậy, không được tự ý chiếm giữ hay sử dụng tài sản của bên nhận cọc để trừ vào tiền cọc. Việc tự ý sử dụng tài sản của đối tượng đã bỏ trốn được xem là hành vi chiếm đoạt tài sản trái phép, có thể khiến bên đặt cọc vướng vào rắc rối pháp lý.

4. Làm sao để chứng minh với cơ quan điều tra rằng đối tượng "cố ý bỏ trốn" chứ không phải do chuyển chỗ ở vô tình?

Để chứng minh với cơ quan điều tra rằng đối tượng "cố ý bỏ trốn" chứ không phải do chuyển chỗ ở vô tình thông qua các tài liệu, chứng cứ dưới đây:

  • Sự biến mất hoàn toàn và cắt đứt liên lạc: Cung cấp nhật ký cuộc gọi, tin nhắn không hồi đáp; bằng chứng họ khóa/chặn tài khoản mạng xã hội, rời bỏ nơi làm việc hoặc thuê trọ đột ngột mà không thanh toán tiền.
  • Xác minh từ chính quyền địa phương: Xin giấy xác nhận của Công an phường/xã nơi người đó đăng ký thường trú hoặc tạm trú, chứng minh đối tượng đã vắng mặt tại địa phương, không khai báo tạm vắng theo quy định.

Theo đó, các chứng cứ trên có thể dùng để chứng minh với cơ quan điều tra rằng đối tượng "cố ý bỏ trốn" chứ không phải do chuyển chỗ ở vô tình.

5. Bị lừa đặt cọc mua hàng qua mạng, chỉ có thông tin số tài khoản ngân hàng thì có cơ hội tìm ra đối tượng không?

Việc bị lừa đặt cọc mua hàng qua mạng, chỉ có thông tin số tài khoản ngân hàng thì có cơ hội tìm ra đối tượng không phụ thuộc vào chứng cứ thu thập và thời điểm trình báo hoặc tố giác tội phạm đến cơ quan chức năng.

Theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cá nhân, tổ chức có quyền tố giác, báo tin về tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Do đó, nếu bị lừa đặt cọc mua hàng qua mạng, thì cần dừng việc gửi tiền và liên hệ ngay lập tức với ngân hàng và tổ chức tài chính của bạn để báo cáo lừa đảo và yêu cầu họ dừng mọi giao dịch. Đồng thời thu thập và lưu lại bằng chứng, làm đơn tố giác gửi tới cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Kết luận lại, bị lừa đặt cọc mua hàng qua mạng, chỉ có thông tin số tài khoản ngân hàng thì việc tìm ra đối tượng hay không phụ thuộc vào quá trình điều tra tội phạm của cơ quan chức năng.

V. Gặp rủi ro về tiền đặt cọc? Nhấn vào đây để nhận lộ trình tư vấn pháp lý xử lý tội phạm chiếm đoạt tài sản từ các chuyên gia NPLaw.

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về nhận tiền đặt cọc số lượng lớn rồi bỏ trốn mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.