I. Thực trạng bồi thường thiệt hại cho công ty
Hiện nay, tình trạng vi phạm nghĩa vụ, gây thiệt hại trong nội bộ công ty hoặc từ đối tác diễn ra phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản và uy tín doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm và áp dụng quy trình bồi thường thiệt hại vẫn còn nhiều bất cập, do thiếu hiểu biết pháp lý hoặc quy trình nội bộ chưa chặt chẽ. Nhiều doanh nghiệp chưa kịp thời xử lý hoặc bỏ qua quyền yêu cầu bồi thường, dẫn đến mất mát tài chính đáng kể. Do đó, việc nâng cao nhận thức pháp lý và hoàn thiện quy trình là rất cần thiết.
II. Quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại cho công ty
1. Trường hợp bồi thường thiệt hại cho công ty
Căn cứ quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019 thì người lao động phải bồi thường thiệt hại cho công ty nếu gây thiệt hại tài sản của công ty trong các trường hợp sau đây:
- Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019.
- Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.
2. Trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại cho công ty
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 130 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì việc xử lý bồi thường thiệt hại được thực hiện theo trình tự, thủ tục sau đây:
- Khi phát hiện người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì người sử dụng lao động yêu cầu người lao động tường trình bằng văn bản về vụ việc.
- Trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 72 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại như sau:
+ Ít nhất 05 ngày làm việc trước khi tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại, người sử dụng lao động thông báo đến các thành phần phải tham dự họp bao gồm: các thành phần quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019, thẩm định viên về giá (nếu có); bảo đảm các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp. Nội dung thông báo phải nêu rõ thời gian, địa điểm tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại; họ tên người bị xử lý bồi thường thiệt hại và hành vi vi phạm;
+ Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản này phải xác nhận tham dự cuộc họp với người sử dụng lao động. Trường hợp một trong các thành phần không thể tham dự họp theo thời gian, địa điểm đã thông báo thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận việc thay đổi thời gian, địa điểm họp; trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp;
+ Người sử dụng lao động tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo thời gian, địa điểm đã thông báo quy định tại điểm a, điểm b khoản này. Trường hợp một trong các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản này không xác nhận tham dự hoặc vắng mặt thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành họp xử lý bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

- Nội dung cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại phải được lập thành biên bản, thông qua trước khi kết thúc cuộc họp và có chữ ký của người tham dự cuộc họp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản.
- Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải được ban hành trong thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại. Quyết định xử lý bồi thường thiệt hại phải nêu rõ mức thiệt hại; nguyên nhân thiệt hại; mức bồi thường thiệt hại; thời hạn, hình thức bồi thường thiệt hại và được gửi đến các thành phần phải tham dự họp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
- Các trường hợp bồi thường thiệt hại khác thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại cho công ty
Căn cứ khoản 2 Điều 130 Bộ luật lao động 2019 và Điều 72 Nghị định 145/2020/NĐ-CP thì thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại được quy định như sau:
- Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại là 06 tháng kể từ ngày người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.
- Không xử lý bồi thường thiệt hại đối với người lao động đang trong thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019.
- Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
III. Giải đáp một số thắc mắc liên quan đến bồi thường thiệt hại cho công ty
1. Thành phần tham dự cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại cho công ty bao gồm những ai?
Theo quy định tại Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, khi tổ chức cuộc họp xử lý bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra, người sử dụng lao động phải mời các thành phần sau tham dự:
- Người lao động có hành vi gây thiệt hại.
- Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên.
- Luật sư hoặc người bào chữa (nếu người lao động yêu cầu).
- Người đại diện theo pháp luật (trường hợp người lao động chưa đủ 15 tuổi).
- Thẩm định viên về giá (nếu có yêu cầu thẩm định mức thiệt hại).Người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản đến các thành phần trên ít nhất 05 ngày làm việc trước khi cuộc họp diễn ra, đảm bảo họ nhận được thông báo kịp thời. Nội dung thông báo cần nêu rõ thời gian, địa điểm họp, họ tên người bị xử lý và hành vi vi phạm.
Việc tuân thủ đầy đủ thành phần tham dự và trình tự thủ tục là điều kiện bắt buộc để quyết định xử lý bồi thường thiệt hại có hiệu lực pháp lý.
2. Thời hạn gửi thông báo họp xử lý bồi thường thiệt hại cho công ty là bao lâu?
Căn cứ theo Điều 72 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định về thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại như sau:
Điều 72. Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại
Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại tại khoản 2 Điều 130 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:
1. Thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại là 06 tháng kể từ ngày người lao động có hành vi làm hư hỏng, làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.
2. Không xử lý bồi thường thiệt hại đối với người lao động đang trong thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động.
3. Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật Lao động, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

Như vậy, thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại là 06 tháng kể từ ngày người lao động làm hư hỏng làm mất dụng cụ, thiết bị hoặc làm mất tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.
Khi hết thời hạn quy định, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu xử lý bồi thường thiệt hại nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
Lưu ý: Không xử lý bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp tại khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động 2019.
3. Khiếu nại về xử lý bồi thường thiệt hại cho công ty được quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 73 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, khi người lao động bị xử lý bồi thường thiệt hại mà cảm thấy quyết định không thỏa đáng, họ có quyền khiếu nại theo các bước sau:
- Khiếu nại nội bộ: Người lao động có thể nộp đơn khiếu nại trực tiếp đến người sử dụng lao động để yêu cầu xem xét lại quyết định xử lý bồi thường.
- Khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền: Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại nội bộ hoặc không nhận được phản hồi trong thời hạn quy định, người lao động có thể gửi đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện, tỉnh hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân: Trường hợp không đạt được thỏa thuận hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, người lao động có thể yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo trình tự quy định tại Mục 2 Chương XIV Bộ luật Lao động 2019.
Việc tuân thủ đúng trình tự khiếu nại giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quá trình xử lý bồi thường thiệt hại.
4. Quy định về mức độ thiệt hại khi công ty yêu cầu bồi thường là gì?
Căn cứ quy định tại Điều 129 Bộ luật Lao động 2019 quy định về bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động như sau:
Bồi thường thiệt hại
1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này.
2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, trường hợp người lao động gây thiệt hại cho công ty thì phải bồi thường thiệt hại như sau:
- Đối với trường hợp người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.
- Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ không được quá 30% tiền lương thực trả hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
- Trường hợp người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động;
- Trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.
- Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.
5. Doanh nghiệp có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại từ đối tác trong trường hợp vi phạm hợp đồng không?
Doanh nghiệp hoàn toàn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại từ đối tác trong trường hợp vi phạm hợp đồng, căn cứ theo Điều 303 Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên, để yêu cầu bồi thường hợp pháp và có cơ sở, doanh nghiệp phải chứng minh đồng thời ba yếu tố sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng: Đối tác không thực hiện hoặc thực hiện sai nghĩa vụ đã thỏa thuận, như giao hàng chậm, không đúng chất lượng, đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật,...
- Có thiệt hại thực tế xảy ra: Doanh nghiệp bị thiệt hại về tài sản, chi phí phát sinh hoặc mất đi lợi ích mà lẽ ra sẽ đạt được nếu hợp đồng được thực hiện đúng.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại: Hành vi vi phạm của đối tác phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Nếu không chứng minh được yếu tố này, yêu cầu bồi thường có thể không được chấp nhận.
Theo khoản 2 Điều 302 cùng luật, giá trị bồi thường thiệt hại sẽ bao gồm:
- Tổn thất thực tế, trực tiếp do bên vi phạm gây ra;
- Khoản lợi nhuận trực tiếp bị mất mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu hợp đồng không bị vi phạm.
Vì vậy, doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ chứng cứ về hợp đồng, thiệt hại và mối liên hệ nhân quả để bảo vệ quyền lợi khi yêu cầu bồi thường thiệt hại từ đối tác.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến bồi thường thiệt hại cho công ty
Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến bồi thường thiệt hại cho công ty của NP Law hỗ trợ doanh nghiệp xác định đúng thiệt hại, trách nhiệm và quy trình yêu cầu bồi thường theo pháp luật. Chúng tôi tư vấn về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, hướng dẫn xử lý nội bộ, chuẩn bị hồ sơ, tham dự cuộc họp xử lý, thương lượng và bảo vệ quyền lợi của công ty trong các tranh chấp bồi thường với cá nhân hoặc đối tác vi phạm.