Khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, vấn đề bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất luôn là mối quan tâm hàng đầu của người sử dụng đất.
I. Thực trạng liên quan đến bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa và triển khai hàng loạt dự án hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới, tình trạng Nhà nước thu hồi đất diễn ra ngày càng phổ biến trên phạm vi cả nước. Mặc dù pháp luật đất đai đã có những quy định tương đối đầy đủ về bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất, song thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến không ít khiếu nại, tố cáo, thậm chí tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
- Thứ nhất, bất cập trong việc xác định giá đất để bồi thường là vấn đề nổi cộm nhất hiện nay. Trên thực tế, giá đất làm căn cứ bồi thường thường được xác định theo bảng giá đất hoặc giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, trong khi mức giá này thường thấp hơn đáng kể so với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường tại cùng thời điểm. Sự chênh lệch lớn này khiến người bị thu hồi đất khó có khả năng tạo lập chỗ ở hoặc điều kiện sản xuất, kinh doanh tương đương sau khi bị thu hồi đất, từ đó phát sinh tâm lý không đồng thuận và khiếu kiện.
- Thứ hai, phạm vi thiệt hại được bồi thường chưa phản ánh đầy đủ thiệt hại thực tế của người sử dụng đất. Trong nhiều trường hợp, việc bồi thường chủ yếu tập trung vào giá trị quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình gắn liền với đất, trong khi các thiệt hại gián tiếp như mất sinh kế, gián đoạn hoạt động sản xuất – kinh doanh, chi phí chuyển đổi nghề, chi phí ổn định đời sống lại được tính toán mang tính hình thức, mức hỗ trợ thấp và thiếu linh hoạt. Điều này đặc biệt bất lợi đối với các hộ gia đình, cá nhân sống chủ yếu dựa vào đất nông nghiệp hoặc mặt bằng kinh doanh bị thu hồi.
- Thứ ba, quá trình lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường còn thiếu minh bạch. Trên thực tế, không ít người dân phản ánh họ không được cung cấp đầy đủ thông tin về căn cứ pháp lý, cách thức xác định giá bồi thường, cũng như các khoản hỗ trợ kèm theo. Việc lấy ý kiến người bị thu hồi đất trong quá trình xây dựng phương án bồi thường đôi khi mang tính hình thức, dẫn đến sự thiếu đồng thuận và làm gia tăng mâu thuẫn giữa người dân với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Thứ tư, việc áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương cũng là một thực trạng đáng chú ý. Cùng một loại đất, cùng điều kiện sử dụng và bị thu hồi cho mục đích tương tự, nhưng mức bồi thường và hỗ trợ có thể chênh lệch đáng kể giữa các tỉnh, thành phố khác nhau. Sự thiếu thống nhất này không chỉ gây khó khăn cho người sử dụng đất trong việc so sánh, bảo vệ quyền lợi của mình, mà còn đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hơn nữa cơ chế xác định bồi thường thiệt hại theo hướng công bằng, hợp lý.
- Thứ năm, tình trạng khiếu nại, khởi kiện liên quan đến bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất vẫn diễn biến phức tạp. Nhiều vụ việc kéo dài qua nhiều cấp giải quyết, thậm chí trở thành “điểm nóng” về an ninh trật tự tại địa phương. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự chưa thỏa đáng trong chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cũng như hạn chế trong công tác đối thoại, giải thích, thuyết phục người dân của cơ quan có thẩm quyền.
Từ những thực trạng nêu trên có thể thấy, mặc dù bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất đã được pháp luật điều chỉnh khá chi tiết, song việc tổ chức thực hiện trên thực tế vẫn còn nhiều khoảng trống.
II. Khái niệm về bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Để hiểu đúng và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thu hồi đất, trước hết cần làm rõ khái niệm cũng như bản chất pháp lý của bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất. Việc nhận diện đầy đủ nội hàm của khái niệm này không chỉ giúp người sử dụng đất ý thức rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn là cơ sở quan trọng để đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường trong thực tiễn.
1. Bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất là gì?
Theo khoản 5 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 giải thích, bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất thu hồi cho người có đất thu hồi.
Bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất được hiểu là việc Nhà nước hoàn trả cho người sử dụng đất giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản gắn liền với đất và các thiệt hại hợp pháp khác mà người sử dụng đất phải gánh chịu do việc Nhà nước quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật đất đai.
Về bản chất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất không phải là sự “hỗ trợ” mang tính nhân đạo hay thiện chí, mà là một nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất cho người sử dụng đất khi quyền sử dụng đất hợp pháp của họ bị chấm dứt một cách bắt buộc. Việc bồi thường có thể được thực hiện bằng đất có cùng mục đích sử dụng, bằng nhà ở hoặc bằng tiền, tùy thuộc vào quỹ đất, điều kiện thực tế của địa phương và lựa chọn của người bị thu hồi đất theo quy định pháp luật.
2. Bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất có ý nghĩa như thế nào đối với việc bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất?
Bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thể hiện ở nhiều khía cạnh.
- Trước hết, đây là cơ chế pháp lý nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ lợi ích chung, người sử dụng đất không thể bị đặt vào tình trạng thiệt thòi một cách đơn phương; việc bồi thường hợp lý giúp cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền tài sản của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức.
- Bên cạnh đó, bồi thường thiệt hại còn góp phần bảo vệ quyền tài sản của người sử dụng đất, vốn được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Thông qua việc bồi thường tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất và tài sản bị mất, người bị thu hồi đất có điều kiện tái tạo lại chỗ ở, ổn định sản xuất, kinh doanh và đời sống sau thu hồi.

Ngoài ra, việc thực hiện bồi thường thỏa đáng còn giảm thiểu khiếu nại, tranh chấp, bảo đảm ổn định xã hội. Thực tiễn cho thấy, phần lớn các khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất đều xuất phát từ việc bồi thường không hợp lý hoặc thiếu minh bạch. Do đó, bồi thường thiệt hại đúng quy định, công khai và công bằng chính là yếu tố then chốt để tạo sự đồng thuận của người dân đối với các quyết định thu hồi đất.
3. Bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất có gắn liền với việc bố trí tái định cư không?
Trong nhiều trường hợp, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất có mối quan hệ chặt chẽ với việc bố trí tái định cư, đặc biệt khi thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân. Khi người sử dụng đất bị thu hồi toàn bộ đất ở hoặc phần đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở, việc bồi thường bằng tiền hoặc bằng đất ở đơn thuần sẽ không đủ để bảo đảm ổn định đời sống nếu không kèm theo phương án tái định cư phù hợp.
Về nguyên tắc, bố trí tái định cư là biện pháp bổ trợ nhưng mang tính bắt buộc trong những trường hợp luật định, nhằm bảo đảm người bị thu hồi đất có chỗ ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Tái định cư không chỉ là việc giao đất, giao nhà, mà còn bao gồm việc bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và điều kiện sinh sống tối thiểu cho người dân sau khi di dời.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi trường hợp thu hồi đất đều gắn với tái định cư. Đối với đất nông nghiệp, đất sản xuất – kinh doanh hoặc trường hợp người bị thu hồi đất có chỗ ở khác, pháp luật cho phép chỉ thực hiện bồi thường và hỗ trợ mà không nhất thiết phải bố trí tái định cư. Dù vậy, trong thực tiễn, việc kết hợp hài hòa giữa bồi thường thiệt hại và các chính sách hỗ trợ, tái định cư vẫn là yếu tố quyết định hiệu quả của công tác thu hồi đất và bảo đảm quyền lợi lâu dài cho người sử dụng đất.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, pháp luật đất đai đã thiết lập một hệ thống quy định tương đối đầy đủ về điều kiện, nguyên tắc, phạm vi và thời hạn thực hiện bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất. Việc nắm rõ các quy định này không chỉ giúp người dân chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, mà còn là cơ sở để đánh giá tính hợp pháp của quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
1. Các trường hợp được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Các trường hợp được bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định tại Điều 95 Luật Đất đai 2024 gồm:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm
- Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác; đất nông nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 178 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này
- Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước cho phép hoạt động đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê; không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01/7/2004 trở về sau
- Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế
- Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
- Tổ chức kinh tế, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

Ngoài ra, Chính phủ còn quy định trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất tại Điều 5 Nghị định 88/2024/NĐ-CP.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Theo Điều 91 Luật Đất đai 2024, các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất gồm:
- Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời và đúng quy định của pháp luật; vì lợi ích chung, sự phát triển bền vững, văn minh và hiện đại của cộng đồng, của địa phương; quan tâm đến đối tượng chính sách xã hội, đối tượng trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
- Việc bồi thường về đất được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp người có đất thu hồi được bồi thường bằng đất, bằng nhà ở mà có nhu cầu được bồi thường bằng tiền thì được bồi thường bằng tiền theo nguyện vọng đã đăng ký khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật dân sự mà bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường thiệt hại; chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh phải ngừng sản xuất, kinh doanh do Nhà nước thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ.
- Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản để tạo điều kiện cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản có việc làm, có thu nhập, ổn định đời sống, sản xuất.
- Khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; đồng thời phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi. Khu tái định cư có thể bố trí cho một hoặc nhiều dự án.
- ….
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao tính công bằng, minh bạch trong công tác thu hồi đất, đồng thời hạn chế tranh chấp, khiếu kiện phát sinh, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội trong quá trình triển khai các dự án vì lợi ích chung.
3. Các khoản bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Các khoản bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất hiện nay chủ yếu bao gồm:
- Bồi thường thiệt hại về nhà, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 102 Luật Đất đai 2024;
- Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 103 Luật Đất đai 2024;
- Bồi thường chi phí di chuyển tài sản khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 104 Luật Đất đai 2024;
- Bồi thường thiệt hại đối với đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn khi xây dựng công trình, khu vực có hành lang bảo vệ an toàn theo Điều 106 Luật Đất đai 2024;
- …
Bên cạnh các khoản bồi thường, pháp luật còn quy định các khoản hỗ trợ như hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ tái định cư…
4. Thời hạn chi trả tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được pháp luật quy định như thế nào?
Theo khoản 3 Điều 94 Luật Đất đai 2024, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản.
Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.
Như vậy, pháp luật đất đai đã xác định rõ ràng thời hạn và trách nhiệm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, qua đó bảo đảm quyền lợi tài chính kịp thời cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Quy định về việc phải thanh toán thêm khoản tiền tương ứng với tiền chậm nộp trong trường hợp chậm chi trả không chỉ mang tính bù đắp thiệt hại do việc chậm thanh toán gây ra, mà còn là cơ chế ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với cơ quan, tổ chức thực hiện bồi thường, góp phần hạn chế tình trạng kéo dài, chậm trễ trong thực tiễn và nâng cao tính nghiêm minh, minh bạch của pháp luật.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật đất đai, các quy định về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất tuy đã được luật hóa tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn không ít tình huống phát sinh phức tạp, gây lúng túng cho người sử dụng đất trong quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp cùng phân tích cụ thể nhằm làm rõ cách hiểu và cách áp dụng pháp luật trong từng trường hợp.
1. Trường hợp người bị thu hồi đất đã chết thì ai là người nhận tiền bồi thường?
Trường hợp người có đất bị thu hồi đã chết trước thời điểm nhận tiền bồi thường, thì khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được xác định là di sản của người đã chết. Người nhận tiền bồi thường sẽ là những người thừa kế hợp pháp của người bị thu hồi đất theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Trong thực tế, cơ quan thực hiện bồi thường thường yêu cầu những người thừa kế xuất trình các giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế hợp pháp (giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân, văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc văn bản khai nhận di sản…). Chỉ khi xác định rõ chủ thể có quyền nhận tiền bồi thường thì việc chi trả mới được thực hiện, nhằm tránh phát sinh tranh chấp về sau.
2. Người không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được bồi thường khi bị thu hồi đất không?
Theo khoản 2 Điều 95 Luật Đất đai năm 2024, các trường hợp được bồi thường về đất khi có một trong các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Có quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 137 của Luật này;
- Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai;
- Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Do đó, không phải mọi trường hợp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều bị loại trừ quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Chỉ cần người đang sử dụng đất chứng minh được căn cứ pháp lý hợp lệ trên về quyền sử dụng đất thông qua một trong các giấy tờ, quyết định hoặc giao dịch hợp pháp nêu trên, thì vẫn được xem xét bồi thường về đất như trường hợp đã có Giấy chứng nhận.
3. Người dân có quyền lựa chọn hình thức bồi thường khi bị thu hồi đất hay không?
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Đất đai 2024, điểm e khoản 1 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP, việc bồi thường về đất được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp người có đất thu hồi được bồi thường bằng đất, bằng nhà ở mà có nhu cầu được bồi thường bằng tiền thì được bồi thường bằng tiền theo nguyện vọng đã đăng ký khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Như vậy, khi nhận bồi thường thu hồi đất, người dân có quyền lựa chọn trong khuôn khổ của pháp luật và điều kiện thực tế của địa phương nơi có đất.
4. Khi thu hồi một phần thửa đất, việc bồi thường thiệt hại được tính ra sao?
Trong trường hợp Nhà nước chỉ thu hồi một phần thửa đất, việc bồi thường thiệt hại được xác định trên cơ sở diện tích đất thực tế bị thu hồi và giá đất cụ thể tương ứng. Đồng thời, pháp luật cũng xem xét đến ảnh hưởng của việc thu hồi đối với phần diện tích đất còn lại.
Nếu phần đất còn lại không đủ điều kiện sử dụng theo quy định hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng, khả năng sinh lợi, thì người sử dụng đất có thể được bồi thường bổ sung đối với phần thiệt hại phát sinh hoặc được xem xét thu hồi toàn bộ thửa đất để bảo đảm quyền lợi chính đáng. Đây là quy định quan trọng nhằm tránh tình trạng người dân tuy còn đất nhưng không thể khai thác, sử dụng hiệu quả sau thu hồi.
5. Người thuê đất của Nhà nước có được bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai 2024, đất thuê của Nhà nước (không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm) được bồi thường khi thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Như vậy, đối với người thuê đất của Nhà nước, quyền được bồi thường phụ thuộc vào hình thức trả tiền thuê đất. Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm, pháp luật không bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, người thuê đất vẫn được bồi thường thiệt hại về tài sản hợp pháp gắn liền với đất và được xem xét hỗ trợ theo quy định.
Ngược lại, nếu người thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, thì khi Nhà nước thu hồi đất trước thời hạn, người thuê đất có thể được xem xét bồi thường về đất đối với thời gian thuê còn lại, đồng thời được bồi thường tài sản gắn liền với đất và các khoản hỗ trợ khác theo quy định pháp luật.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất là lĩnh vực pháp lý phức tạp, liên quan trực tiếp đến quyền tài sản, sinh kế và đời sống lâu dài của người sử dụng đất. Trong khi đó, các quy định pháp luật thường xuyên thay đổi, cách áp dụng giữa các địa phương không hoàn toàn thống nhất, dẫn đến nhiều rủi ro nếu người dân tự mình xử lý.
Việc tìm đến luật sư tư vấn tại NPLaw giúp người có đất bị thu hồi được đánh giá đầy đủ tính pháp lý của quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, xác định đúng quyền được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định mới nhất của pháp luật. Luật sư còn hỗ trợ soạn thảo đơn từ, đại diện làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tham gia khiếu nại, khởi kiện khi quyền lợi bị xâm phạm, qua đó giúp khách hàng bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình thu hồi đất.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.