Tai nạn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại, không chỉ bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó để lại cho nạn nhân và gia đình họ, mà còn bởi những hành vi vô nhân đạo có thể xảy ra sau đó. Một trong những hành vi đặc biệt gây phẫn nộ trong dư luận là việc người điều khiển phương tiện giao thông tiếp tục chèn qua bị hại sau khi vụ va chạm đã xảy ra. Hành vi này đặt ra nhiều vấn đề pháp lý: Nó bị xử lý theo quy định nào của pháp luật? Có bị coi là hành vi cố ý giết người hay chỉ là lỗi vô ý? Hình phạt áp dụng ra sao? 

Bài viết này NPLAW sẽ phân tích cụ thể các quy định hiện hành về điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông.

I. Điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông là hành vi trái pháp luật đúng không?

Hành vi cố ý điều khiển xe chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn là hành vi trái pháp luật, cụ thể có thể cấu thành tội “Giết người” quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015.

II. Quy định pháp luật về hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

1. Phân tích hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

Phân tích hành vi cố ý điều khiển xe chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn: 

  • Về mặt khách quan: Người phạm tội có hành vi tước đoạt tính mạng của nạn nhân sau khi gây tai nạn. Đây thuộc dạng hành vi hành động. Hậu quả làm nạn nhân chết.
  • Về mặt chủ quan: Người thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý.
  • Về mặt khách thể: Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ; quyền được sống của con người được pháp luật bảo vệ.
  • Về mặt chủ thể: Chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.

2. Phân biệt lỗi và xác định tội danh khi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

*LỖI: Có hai hình thức lỗi chính:

Lỗi vô ý (vô ý vì cẩu thả hoặc quá tự tin)

  • Vô ý vì cẩu thả: Người điều khiển phương tiện không biết rằng hành vi của mình có thể gây hậu quả chết người, mặc dù phải biết và có thể biết.
  • Vô ý vì quá tự tin: Người điều khiển biết hành vi có thể gây hậu quả chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể tránh được.
  • Ví dụ thực tiễn: Một tài xế xe tải gây tai nạn, không xuống xe kiểm tra mà lùi xe để tiếp tục di chuyển và vô tình chèn lên nạn nhân đang nằm phía sau xe. Trong trường hợp này, nếu tài xế không biết có người ở phía sau và không quan sát kỹ, hành vi có thể bị coi là lỗi vô ý vì cẩu thả. Khi đó, tội danh phù hợp là Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 BLHS.

Lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp)

  • Cố ý trực tiếp: Người thực hiện biết rõ hành vi của mình sẽ gây hậu quả chết người và mong muốn hậu quả đó xảy ra.
  • Cố ý gián tiếp: Người thực hiện biết rõ hành vi có thể gây hậu quả chết người, không mong muốn nhưng bỏ mặc, chấp nhận hậu quả.
  • Ví dụ thực tiễn: Sau khi xảy ra va chạm, tài xế xuống xe, thấy nạn nhân còn sống, nhưng vì sợ bị bắt đền hoặc bị xử lý hình sự, đã lên xe và chủ động điều khiển xe chèn lên nạn nhân để giết người phi tang. Trong trường hợp này, lỗi là cố ý trực tiếp – và tội danh phù hợp là Tội giết người theo Điều 123 BLHS.

XÁC ĐỊNH TỘI DANH

Theo Án lệ số 30/2020/AL hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn như sau: 

  • Sau khi gây ra tai nạn giao thông cho bị hại – Hoàng Đức P, bị cáo Phan Đình Q dừng xe xuống kiểm tra thấy bị hại nằm dưới gầm xe ô tô, tay phải nằm vắt ra ngoài, bánh phía sau bên phụ của ô tô đè lên phần vai, gáy của em P, phần mặt bên trái của P tiếp xúc với mặt đường. Không xác định được bị hại còn sống hay đã chết, bị cáo tiếp tục điều khiển xe chèn lên người bị hại. Hậu quả là bị hại chết. 
  • Thẩm phán tuyên bố bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Giết người” Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b khoản 1,2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt: Phan Đình Q 13 (mười ba) năm 6 (sáu) tháng tù. 

Như vậy, khi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông có thể xác định tội giết người (Điều 123 BLHS). Áp dụng khi: Người điều khiển phương tiện có hành vi cố ý tước đoạt mạng sống của người khác, dù bằng phương tiện giao thông; Hành vi chèn lên nạn nhân là hành vi có chủ đích, không phải sự nhầm lẫn hay vô 

3. Trách nhiệm hình sự và các yếu tố tăng nặng, giảm nhẹ trong điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ:

Theo Điều 123 BLHS 2015, người phạm tội giết người có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình tùy trường hợp vi phạm. 

YẾU TỐ TĂNG NẶNG, GIẢM NHẸ:

Tăng nặng: Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), một số tình tiết làm tăng mức độ nghiêm trọng của tội giết người bao gồm:

  • Giết 02 người trở lên;
  • Giết người dưới 16 tuổi;
  • Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  • Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
  • Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
  • Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
  • Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
  • Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
  • Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
  • Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
  • Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  • Có tính chất côn đồ;
  • Có tổ chức;
  • Tái phạm nguy hiểm;
  • Vì động cơ đê hèn.

Giảm nhẹ: Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), một số tình tiết sau được áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội:

  • Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
  • Người phạm tội là phụ nữ có thai;
  • Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
  • Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
  • Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
  • Người phạm tội tự thú;
  • Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
  •  Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
  • Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
  • Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
  • Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

III. Giải đáp một số câu hỏi về hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

1. Nếu hành vi chèn lên xảy ra trong trạng thái hoảng loạn cực độ của người điều khiển phương tiện sau tai nạn ban đầu, liệu yếu tố "cố ý" có còn được xem xét không? 

  • Nếu hành vi chèn lên bị hại xảy ra trong trạng thái hoảng loạn cực độ, thì yếu tố "cố ý" có thể không còn nếu người điều khiển không nhận thức rõ hậu quả hoặc không kiểm soát được hành vi tại thời điểm đó. Khi đó, hành vi có thể bị xem là vô ý, và người đó có thể bị xử lý theo Điều 260 Bộ luật Hình sự (Tội vi phạm quy định về giao thông).
  • Tuy nhiên, nếu dù hoảng loạn nhưng người đó vẫn nhận thức rõ hành vi chèn lên có thể gây chết người mà vẫn thực hiện, thì yếu tố cố ý vẫn có thể bị xác lập, dẫn đến tội danh giết người (Điều 123 BLHS).
  • Trạng thái hoảng loạn cũng có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu không làm mất hoàn toàn năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

2. Trong trường hợp nhiều người cùng trên phương tiện và có hành vi xúi giục hoặc giúp sức người điều khiển chèn lên bị hại, trách nhiệm hình sự của từng người sẽ được xác định như thế nào?

Trong trường hợp có nhiều người trên phương tiện và có hành vi xúi giục hoặc giúp sức tài xế chèn lên bị hại, những người đó có thể bị coi là đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015.

  • Người xúi giục: Nếu kích động, dụ dỗ tài xế thực hiện hành vi chèn lên nạn nhân, thì bị xử lý với vai trò người xúi giục.
  • Người giúp sức: Nếu hỗ trợ tài xế về tinh thần hoặc vật chất (như cảnh giới, giữ tay lái…), thì là người giúp sức.

Cả hai sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với tội danh mà người thực hành phạm phải, với mức hình phạt phụ thuộc vào mức độ tham gia và vai trò trong vụ án.

3. Theo ý kiến của các chuyên gia pháp lý, liệu pháp luật hiện hành đã đủ rõ ràng và bao quát để xử lý hiệu quả hành vi này chưa? Có cần thiết phải có những hướng dẫn hoặc sửa đổi cụ thể nào không? 

Theo nhiều chuyên gia pháp lý, pháp luật hiện hành chưa thực sự rõ ràng và bao quát trong việc xử lý hành vi chèn lên bị hại sau tai nạn giao thông. Việc phân biệt giữa lỗi cố ý và vô ý còn phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của cơ quan tố tụng, dễ dẫn đến vướng mắc trong định tội.

Do đó, cần có hướng dẫn cụ thể hơn từ Tòa án Nhân dân Tối cao về:

  • Tiêu chí xác định lỗi trong trường hợp đặc biệt (như hoảng loạn);
  • Cách định tội danh giữa tội vi phạm quy định giao thông và tội giết người.
  • Thậm chí, nhiều ý kiến cho rằng nên bổ sung tình tiết này thành một cấu thành tăng nặng độc lập trong luật để xử lý nhất quán và nghiêm minh hơn.

4. Điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau tai nạn hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy theo mức độ lỗi và hậu quả gây ra:

  • Nếu vô ý (do hoảng loạn, thiếu quan sát...), có thể bị xử lý theo Điều 260 BLHS – Tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ.
  • Nếu cố ý chèn để giết người, sẽ bị xử lý theo Điều 123 BLHS – Tội giết người.

5. Mức phạt đối với hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông được quy định thế nào?

Theo Điều 123 BLHS 2015, hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông cấu thành tội giết người có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình tùy trường hợp vi phạm. 

6. Trong trường hợp không cố ý, điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông có được coi là tình tiết giảm nhẹ không?

Trong trường hợp không cố ý, hành vi chèn lên bị hại không được coi là tình tiết giảm nhẹ, vì đây vẫn là hành vi gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu người điều khiển phương tiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc hành động trong tình trạng hoảng loạn, thì các yếu tố đó mới có thể được xem là tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. 

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông

Khách hàng có thắc mắc liên quan hay có nhu cầu tư vấn quy định về hành vi điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.