Tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình là một trong các loại tranh chấp đất đai thường gặp hiện nay. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng liên quan đến tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình
Thực trạng tranh chấp đất đai trong gia đình hiện nay rất phổ biến và khá phức tạp, thường liên quan đến phân chia di sản thừa kế, đất do tổ tiên để lại hoặc đất cấp cho hộ gia đình. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ giá trị đất tăng cao, thiếu di chúc rõ ràng, mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình hoặc do sự chênh lệch về quyền lợi. Do đó, việc nắm các quy định pháp luật hiện hành về đất đai và giải quyết tranh chấp sẽ giúp các bên bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
II. Khái niệm về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình
Để hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan đến tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình là gì?
Theo khoản 47 Điều 3 Luật đất đai 2024 quy định tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

Theo đó, có thể hiểu tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình là những mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
2. Những trường hợp nào thường phát sinh tranh chấp phân chia đất trong gia đình?
Các trường hợp tranh chấp phân chia đất trong gia đình phổ biến hiện nay có thể kể đến gồm:
- Tranh chấp thừa kế: Đây là trường hợp phổ biến nhất, xảy ra khi ông bà, cha mẹ mất mà không có di chúc hoặc di chúc không rõ ràng, các người thừa kế (anh chị em) không thống nhất được việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất.
- Tranh chấp đất hộ gia đình: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình nhưng không ghi tên từng thành viên. Khi cần chia tách, một số thành viên không đồng ý hoặc không xác định rõ phần quyền của từng người.
- Tranh chấp khi ly hôn: Chia tài sản chung là đất đai của vợ chồng, bao gồm cả đất nhận từ bố mẹ chồng/vợ trong thời kỳ hôn nhân.
- Tranh chấp ranh giới liền kề: Các hộ gia đình trong cùng dòng họ (anh em, chú cháu) liền kề không phân biệt rõ ranh giới đất dẫn đến tranh chấp về việc lấn chiếm.
- Tranh chấp từ việc tặng cho không rõ ràng: Cha mẹ cho con đất để xây nhà nhưng chỉ nói miệng, không làm thủ tục sang tên (đăng ký biến động). Sau này, khi cha mẹ mất dẫn đến mâu thuẫn giữa các anh em khi phân chia đất đai.
Như vậy, tranh chấp phân chia đất trong gia đình thường phát sinh do nhiều nguyên nhân, trong đó phổ biến là các trường hợp trên.
3. Ai là những người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong tranh chấp phân chia đất gia đình?
Căn cứ khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Theo đó, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong tranh chấp phân chia đất gia đình là các cá nhân, tổ chức không trực tiếp khởi kiện/bị kiện nhưng việc chia đất ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của họ, bao gồm:
- Thành viên trong hộ gia đình: Đối với đất cấp cho hộ gia đình, tất cả các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu hoặc có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đang sống chung và có đóng góp tạo lập quyền sử dụng đất tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đều được coi là người có quyền lợi liên quan.
- Người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất: Người đang sinh sống, canh tác hoặc trông coi thửa đất tranh chấp, dù không đứng tên trên giấy tờ, vẫn cần tham gia để làm rõ hiện trạng và bảo vệ quyền lợi về công sức đóng góp, tôn tạo đất đai.
- Bên thứ ba có giao dịch liên quan: Người nhận chuyển nhượng, tặng cho, người đã mua hoặc được tặng một phần diện tích đất đang tranh chấp; Ngân hàng/Tổ chức tín dụng, nếu thửa đất đang được thế chấp để vay vốn hoặc chủ sở hữu đất liền kề trong trường hợp tranh chấp có liên quan đến ranh giới, lối đi chung hoặc lấn chiếm không gian.
- Cơ quan nhà nước: Ủy ban nhân dân các cấp, nơi quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có thể được triệu tập để làm rõ thủ tục cấp đất.

Tóm lại, việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đóng vai trò quan trọng để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên và tránh việc bản án bị hủy do bỏ sót đương sự.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình
Tìm hiểu các quy định về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Pháp luật quy định thế nào về quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình?
- Theo khoản 25 Điều 3 Luật đất đai 2024 quy định hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
- Khi chuyển nhượng nhà đất của hộ gia đình thì phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền ký tên. Đồng thời, người ký hợp đồng chuyển nhượng phải có sự đồng ý của các thành viên có chung quyền sử dụng đất. Nội dung này được quy định rõ tại điểm b khoản 2 Điều 27 Luật đất đai 2024, cụ thể:
- Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện đăng ký biến động hoặc tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.
- Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì các thành viên cùng nhau thực hiện hoặc ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.
Đồng thời tại điểm a khoản 2 Điều 27 Luật đất đai 2024 cũng quy định nhóm người sử dụng đất bao gồm thành viên hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của cá nhân theo quy định của Luật này. Theo Điều 26 Luật đất đai 2024, quyền chung của người sử dụng đất gồm:
- Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất sử dụng hợp pháp.
- Hưởng các lợi ích khi Nhà nước đầu tư để bảo vệ, cải tạo và phát triển đất nông nghiệp.
- Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, phục hồi đất nông nghiệp.
- Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.
- Được quyền chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này.
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
Có thể thấy, quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình được pháp luật quy định như trên, các bên cần lưu ý để bảo vệ quyền lợi của mình.
2. Trường hợp đất đang có tranh chấp thì có được cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận không?
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 151 Luật đất đai 2024 quy định đất đang có tranh chấp thì không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Đồng thời, căn cứ theo Tiểu mục 7 Mục C Phần 5 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP quy định các trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp:
- Người sử dụng đất có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đã cấp trước ngày 01 tháng 8 năm 2024 sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
- Giấy chứng nhận đã cấp bị ố, nhòe, rách, hư hỏng;
- Giấy chứng nhận đã cấp chung cho nhiều thửa đất mà thực hiện cấp riêng cho từng thửa đất theo nhu cầu của người sử dụng đất và trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại Mục 7 Phần XV của “Phần C. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” này;
- Mục đích sử dụng đất ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đã cấp khác với mục đích sử dụng đất theo phân loại đất quy định tại Điều 9 Luật đất đai 2024 và quy định tại Nghị định 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
- Vị trí thửa đất trên Giấy chứng nhận đã cấp không chính xác so với vị trí thực tế sử dụng đất tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đã cấp;
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc của chồng, nay có yêu cầu cấp đối Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng;

- Giấy chứng nhận đã cấp ghi tên hộ gia đình, nay các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình đó có yêu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình;
- Thay đổi kích thước các cạnh, diện tích, số hiệu của thửa đất do đo đạc lập bản đồ địa chính, trích đo địa chính thửa đất mà ranh giới thửa đất không thay đổi.
Có thể thấy, theo quy định trên thì hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc hạn chế việc cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đang có tranh chấp. Việc hai bên có tranh chấp đất đai chỉ bị hạn chế trong trường trường hợp xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phân chia đất trong gia đình theo quy định pháp luật
Thủ tục giải quyết tranh chấp phân chia đất trong gia đình được thực hiện theo quy định pháp luật như sau:
Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 235 Luật đất đai 2024 quy định Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 235 Luật đất đai 2024 và Điều 105 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP, quy trình giải quyết phân chia đất trong gia đình:
- Người nộp đơn gửi yêu cầu hòa giải tranh chấp tới Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Hồ sơ cần chuẩn bị:
- Đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai (bản chính).
- Giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất (có công chứng/chứng thực).
- Nhận hồ sơ: Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho các bên tranh chấp và Văn phòng/Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất về việc chấp nhận yêu cầu hòa giải. Nếu không thụ lý hồ sơ thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Thực hiện thẩm tra, xác minh nguyên nhân tranh chấp; thu thập các tài liệu, thông tin liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc, quy trình và hiện trạng sử dụng đất đai
- Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và tổ chức phiên hòa giải tranh chấp đất đai: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và tổ chức phiên hòa giải tranh chấp đất đai. Phiên họp quy trình hòa giải tranh chấp đất đai cấp xã phải có sự tham dự của các bên tranh chấp, các thành viên Hội đồng hòa giải và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Hòa giải chỉ có thể diễn ra khi có sự có mặt của tất cả các bên tranh chấp. Nếu một bên tranh chấp vắng mặt lần thứ hai thì việc hòa giải được coi là không thành.
- Lập biên bản hòa giải thành hoặc biên bản hòa giải không thành: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành, nếu có ý kiến bằng văn bản của hai bên tranh chấp khác với nội dung đã thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét ý kiến bổ sung cho việc giải quyết và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
- Trường hợp hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo. Thời hạn giải quyết: không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu hòa giải.
Nhìn chung, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp phân chia đất trong gia đình trước hết các bên phải tự hòa giải hoặc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền. Nếu hòa giải không thành, các bên có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Làm thế nào để hạn chế rủi ro tranh chấp khi thực hiện việc phân chia đất trong gia đình?
Để hạn chế rủi ro tranh chấp khi phân chia đất đai trong gia đình, các bên nên lưu ý các vấn đề sau:
- Lập văn bản có công chứng: Mọi thỏa thuận phân chia (tặng cho, thừa kế) cần được lập thành văn bản và công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo tính pháp lý.
- Xác định nguồn gốc và diện tích: Thực hiện đo đạc thực tế và kiểm tra hồ sơ địa chính để xác định chính xác ranh giới, diện tích, tránh chồng lấn hoặc sai lệch so với sổ đỏ.
- Thỏa thuận và phân chia minh bạch: Xác định rõ quyền sử dụng đất là tài sản chung vợ chồng hay tài sản riêng. Hoặc tổ chức họp gia đình, ghi biên bản thỏa thuận phân chia có chữ ký của tất cả các thành viên liên quan.
- Tách thửa đúng quy định: Đảm bảo diện tích đất chia tách đáp ứng điều kiện diện tích tối thiểu theo quy định của địa phương.
Theo đó, để hạn chế rủi ro tranh chấp khi phân chia đất trong gia đình, các bên cần ưu tiên thỏa thuận, lập văn bản rõ ràng và bắt buộc công chứng/chứng thực. Cần xác định đầy đủ các thành viên có quyền, ranh giới diện tích cụ thể, tuân thủ pháp luật về tách thửa và đảm bảo sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan đến quyền sử dụng đất.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình
Để hiểu rõ hơn các quy định về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Có thể yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp khi phát sinh tranh chấp phân chia không?
- Căn cứ khoản 3 Điều 152 Luật đất đai 2024 quy định về những trường hợp đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 152 Luật đất đai 2024 mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai 2024 sẽ thực hiện hủy với Giấy chứng nhận đã cấp đó.
Theo đó, nếu thuộc một trong những trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận dưới đây nhưng lại không tiến hành giao nộp lại thì sẽ bị hủy, cụ thể:
- Thu hồi toàn bộ diện tích đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).
- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp.
- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
- Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, đối tượng sử dụng, diện tích, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng hoặc thời hạn sử dụng hoặc nguồn gốc sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.
- Bị Tòa án có thẩm quyền tuyên hủy.
- Trường hợp đấu giá, giao quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của Tòa án, cơ quan thi hành án mà người phải thi hành án không nộp giấy chứng nhận đã cấp.
- Có bản án, quyết định của Tòa án đã được thi hành hoặc văn bản kiến nghị về việc thi hành bản án của cơ quan thi hành án quyết định theo quy định có nội dung yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp.
Dựa vào quy định này, có thể thấy các bên có thể yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trong các trường hợp như:
- Cấp sai đối tượng: Đất là tài sản chung nhưng chỉ cấp cho một cá nhân mà không có sự đồng ý của các thành viên khác.
- Cấp sai diện tích, nguồn gốc: Diện tích trên sổ không đúng thực tế hoặc nguồn gốc đất kê khai không chính xác.
- Không đủ điều kiện: Đất đang có tranh chấp tại thời điểm cấp nhưng vẫn được cấp giấy.
- Sai thẩm quyền: Giấy chứng nhận do cơ quan không có thẩm quyền ký cấp
Như vậy, có thể yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp khi phát sinh tranh chấp phân chia.
2. Trường hợp có người trong gia đình mất năng lực hành vi dân sự thì việc phân chia đất được giải quyết ra sao?
Trong trường hợp có thành viên gia đình mất năng lực hành vi dân sự, việc phân chia đất đai vẫn được tiến hành nhưng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người đó. Theo đó, người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình thực hiện các giao dịch hay ký kết giấy tờ nên việc phân chia đất phải thông qua người giám hộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015.
- Giám hộ đương nhiên: Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định theo Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
- Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
- Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
- Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
- Cử chỉ định giám hộ: Người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ theo khoản 1 Điều 54 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo đó, trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ. Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.
Tóm lại, trường hợp có người trong gia đình mất năng lực hành vi dân sự thì việc phân chia đất vẫn được giải quyết và phải thông qua người giám hộ hợp pháp.
3. Tranh chấp phân chia đất trong gia đình có thể yêu cầu Tòa án chia đất bằng hiện vật không?
- Căn cứ theo khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật. Nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật.
- Đồng thời theo khoản 3 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định về chia tài sản là đất đai khi có tranh chấp, theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Do đó, khi phát sinh tranh chấp phân chia đất trong gia đình, các bên có thể yêu cầu Tòa án chia đất bằng hiện vật.
4. Có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi xảy ra tranh chấp phân chia đất không?
Căn cứ khoản 1 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.
Theo quy định vừa nêu, khi xảy ra tranh chấp phân chia đất các bên có thể yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và tùy thuộc vào tính chất của vụ việc mà đương sự sẽ lựa chọn yêu cầu áp dụng biện pháp phù hợp.
5. Trường hợp đã có thỏa thuận phân chia đất bằng giấy tay thì có giá trị pháp lý không?
- Theo khoản 3 Điều 27 Luật đất đai 2024 quy định việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
- Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
- Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
- Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
- Việc công chứng, chứng thực thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
- Đồng thời tại khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 có quy định giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Kết luận lại, về nguyên tắc thỏa thuận phân chia đất bằng giấy tay không giá trị pháp lý do không tuân thủ quy định về hình thức, tuy nhiên, trong trường hợp một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó và không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLAW khi có vấn đề về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về tranh chấp liên quan đến việc phân chia đất trong gia đình mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.