Tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao là dạng tranh chấp thường phát sinh giữa các bên trong quá trình chuyển giao dữ liệu. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
I. Thực trạng tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao trong giai đoạn hiện nay
Thực trạng tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao hiện nay khá phức tạp, xoay quanh việc vi phạm quyền riêng tư, rò rỉ, mua bán trái phép dữ liệu cá nhân quy mô lớn, xâm phạm quyền bảo mật thông tin cũng như không xác định được chủ thể có quyền sử dụng dữ liệu sau khi chuyển giao.

Nguyên nhân xuất phát từ nhiều yếu tố như doanh nghiệp không có quy trình chính sách về xử lý và bảo mật dữ liệu chặt chẽ, hợp đồng không quy định rõ trách nhiệm và quyền sử dụng dữ liệu khi đã chuyển giao và hành lang pháp lý còn chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ số. Dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và tranh chấp phát sinh trong việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao.
II. Tìm hiểu về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao
Để hiểu rõ hơn về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao và các lưu ý xoay quanh vấn đề này. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.
1. Tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao thường xảy ra trong những tình huống nào?
Tranh chấp liên quan đến sử dụng dữ liệu đã chuyển giao thường xảy ra trong những tình huống đa dạng, tuy nhiên có những trường hợp phổ biến sau:
- Sử dụng dữ liệu sai mục đích: Sử dụng dữ liệu cho mục đích kinh doanh, tiếp thị không được phép của chủ thể dữ liệu theo thỏa thuận trong hợp đồng ban đầu, hoặc tự ý bán lại cho bên thứ ba.
- Vi phạm bảo mật và rò rỉ dữ liệu: Dữ liệu bị tiết lộ hoặc truy cập trái phép do hệ thống bảo mật yếu kém của bên xử lý dữ liệu, dẫn đến mất mát và thiệt hại cho chủ thể dữ liệu.
- Không minh bạch và thiếu thông tin: Doanh nghiệp không thông báo rõ ràng cho người dùng về việc xử lý dữ liệu khi thu thập, chuyển giao và sử dụng.
- Chuyển giao dữ liệu xuyên biên giới: Doanh nghiệp chuyển dữ liệu khách hàng ra nước ngoài không tuân thủ các quy định pháp luật dẫn đến bị rò rỉ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến thông tin riêng tư của khách hàng.
Như vậy, tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao thường xảy ra trong những tình huống như trên.
2. Tại sao việc xác định rõ ràng mục đích sử dụng dữ liệu đã chuyển giao lại quan trọng trong tranh chấp?
Việc xác định rõ mục đích sử dụng dữ liệu đã chuyển giao đóng vai trò quan trọng trong giải quyết tranh chấp vì các lý do sau:
- Là cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấp: Mục đích sử dụng dữ liệu được thỏa thuận trong hợp đồng và được đồng ý bởi chủ thể dữ liệu. Khi có tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ xem xét việc sử dụng dữ liệu có nằm trong giới hạn mục đích đã thỏa thuận không.
- Bảo vệ quyền lợi chủ thể dữ liệu: Đảm bảo dữ liệu cá nhân không bị dùng vào mục đích khác (như quảng cáo, bán cho bên thứ ba không được phép, hoặc phục vụ mục đích quản lý nhà nước không liên quan), từ đó bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích chính đáng của họ.
- Tính minh bạch và ngăn chặn lạm dụng: Việc quy định rõ ràng mục đích buộc các bên phải minh bạch, tránh việc thu thập dữ liệu tràn lan để phục vụ các mục đích không rõ ràng, chống rửa tiền, tham nhũng.
- Giảm thiểu tranh chấp: Khi mục đích được xác định rõ ràng ngay từ đầu trong thỏa thuận, nguy cơ tranh chấp phát sinh sau này sẽ giảm đáng kể.
- Chứng minh vi phạm: Mục đích sử dụng dữ liệu khi chuyển giao là bằng chứng quan trọng. Nếu bên nhận dữ liệu sử dụng cho mục đích khác, có thể dễ dàng chứng minh hành vi trái phép (ví dụ: dùng dữ liệu khách hàng để bán cho bên thứ ba mà không có sự đồng ý).

Như vậy, việc xác định rõ ràng mục đích sử dụng dữ liệu đã chuyển giao đóng vai trò quan trọng khi có tranh chấp phát sinh và là căn cứ để giải quyết.
3. Có những loại dữ liệu nào thường gây ra tranh chấp khi sử dụng đã chuyển giao?
Khi chuyển giao việc sử dụng dữ liệu cho bên thứ ba, có thể dẫn đến tranh chấp phát sinh về việc sử dụng dữ liệu, các loại dữ liệu thường gây ra tranh chấp gồm:
- Dữ liệu cá nhân: Là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.
- Dữ liệu cá nhân cơ bản: Là dữ liệu cá nhân phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên sử dụng trong các giao dịch, quan hệ xã hội, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành theo khoản 2 Điều 2 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.
- Dữ liệu cá nhân nhạy cảm: Là dữ liệu cá nhân gắn liền với quyền riêng tư của cá nhân, khi bị xâm phạm sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành theo khoản 3 Điều 2 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025.
- Dữ liệu số: Là dữ liệu về sự vật, hiện tượng, sự kiện, bao gồm một hoặc kết hợp các dạng âm thanh, hình ảnh, chữ số, chữ viết, ký hiệu được thể hiện dưới dạng kỹ thuật số (sau đây gọi là dữ liệu) theo khoản 1 Điều 3 Luật dữ liệu 2024.
- Dữ liệu quan trọng: Là dữ liệu có thể tác động đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, sức khỏe và an toàn cộng đồng thuộc danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành theo khoản 6 Điều 3 Luật dữ liệu 2024.
Theo đó, những loại dữ liệu trên thường gây ra tranh chấp về quyền sử dụng khi chuyển giao.
4. Các bên có thể làm gì để ngăn ngừa tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao?
Để ngăn ngừa xảy ra tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao, các bên trong hợp đồng nên lưu ý thực hiện các biện pháp sau:
- Thỏa thuận bảo mật dữ liệu: Các bên nên ký kết thỏa thuận không tiết lộ thông tin hoặc điều khoản bảo mật chặt chẽ trong hợp đồng chuyển giao dữ liệu.
- Xác định mục đích sử dụng dữ liệu sau khi chuyển giao: Hợp đồng phải quy định chi tiết mục đích sử dụng, phạm vi, thời gian và quyền của mỗi bên đối với dữ liệu sau khi được chuyển giao. Đồng thời quy định các biện pháp chế tài, xử lý khi vi phạm đối với việc sử dụng dữ liệu chuyển giao.
- Phân quyền và trách nhiệm: Bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân chuyển giao dữ liệu cá nhân cho bên xử lý dữ liệu cá nhân, bên thứ ba để xử lý dữ liệu cá nhân theo quy định hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng.
- Phải có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân khi chuyển giao dữ liệu cho bên thứ ba.
Như vậy, các bên có thể thực hiện các biện pháp trên để ngăn ngừa tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao
Tìm hiểu các quy định pháp luật về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao theo quy định mới nhất hiện nay.
1. Trong tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao, các bên cần tuân thủ quy định nào về bảo mật thông tin?
Phải xác lập thỏa thuận về việc chuyển giao dữ liệu cá nhân với bên nhận dữ liệu cá nhân. Theo Điều 7 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân chuyển giao dữ liệu cá nhân theo điểm a, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 phải xác lập thỏa thuận về việc chuyển giao dữ liệu cá nhân với bên nhận dữ liệu cá nhân, trong đó nêu rõ các nội dung sau:
- Mục đích chuyển giao dữ liệu cá nhân;
- Đối tượng chủ thể dữ liệu cá nhân và loại dữ liệu cá nhân được chuyển giao phù hợp với mục đích chuyển giao;
- Thời hạn xử lý dữ liệu cá nhân, yêu cầu về xóa, hủy dữ liệu cá nhân sau khi hoàn thành mục đích chuyển giao;
- Cơ sở pháp lý của việc chuyển giao dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình chuyển giao, xử lý dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm thực hiện các quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm phối hợp và tuân thủ của các bên trong trường hợp phát hiện vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Việc chuyển giao dữ liệu cá nhân nhạy cảm phải có biện pháp bảo mật vật lý đối với thiết bị lưu trữ và truyền tải, biện pháp mã hóa, ẩn danh dữ liệu cá nhân và các biện pháp bảo mật khác trong quá trình chuyển giao.

Trường hợp chuyển giao dữ liệu cá nhân theo điểm a, điểm d khoản 1 Điều 17 của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có thu phí để cung cấp dịch vụ cho chủ thể dữ liệu cá nhân hoặc để phục vụ lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân, tổ chức, cá nhân tuân thủ các quy định như sau:
- Phải thiết lập hệ thống kỹ thuật, cơ chế minh bạch để chủ thể dữ liệu cá nhân đồng ý chính xác, rõ ràng theo từng lần chuyển giao, trên cơ sở được biết chính xác mục đích chuyển giao, tổ chức, cá nhân tiếp nhận và xử lý dữ liệu cá nhân;
- Chỉ được xử lý dữ liệu cá nhân đúng cho mục đích chuyển giao được chủ thể dữ liệu cá nhân đồng ý, phù hợp với ngành, nghề đăng ký kinh doanh;
- Loại dữ liệu cá nhân chuyển giao phải giới hạn trong phạm vi mục đích chuyển giao;
- Không được thu thập, lưu trữ, hình thành kho dữ liệu cá nhân từ hoạt động chuyển giao dữ liệu cá nhân để sử dụng cho các mục đích khác ngoài các mục đích đã được chủ thể dữ liệu cá nhân đồng ý;
- Xác định rõ vai trò bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu cá nhân, bên thứ ba trong hoạt động chuyển giao dữ liệu cá nhân;
- Phải có thỏa thuận chuyển giao, xử lý dữ liệu cá nhân trước khi chuyển và cam kết trách nhiệm, nghĩa vụ với chủ thể dữ liệu cá nhân.
Tóm lại, các bên cần tuân thủ quy định về bảo mật thông tin khi thực hiện chuyển giao dữ liệu cho bên thứ ba để tránh phát sinh tranh chấp và gây hậu quả cho chủ thể dữ liệu.
2. Điều khoản nào nên có trong hợp đồng để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao?
Theo Điều 7 Nghị định 356/2025/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân chuyển giao dữ liệu cá nhân theo điểm a, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 phải xác lập thỏa thuận về việc chuyển giao dữ liệu cá nhân với bên nhận dữ liệu cá nhân, trong đó nêu rõ các nội dung sau:
- Mục đích chuyển giao dữ liệu cá nhân;
- Đối tượng chủ thể dữ liệu cá nhân và loại dữ liệu cá nhân được chuyển giao phù hợp với mục đích chuyển giao;
- Thời hạn xử lý dữ liệu cá nhân, yêu cầu về xóa, hủy dữ liệu cá nhân sau khi hoàn thành mục đích chuyển giao;
- Cơ sở pháp lý của việc chuyển giao dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình chuyển giao, xử lý dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm thực hiện các quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân;
- Trách nhiệm phối hợp và tuân thủ của các bên trong trường hợp phát hiện vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Các điều khoản khác do các bên thỏa thuận.
Như vậy, các bên nên thỏa thuận các điều khoản trên trong hợp đồng để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao.
3. Có thể kiện vì vi phạm thỏa thuận về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao không?
Theo điểm đ khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 được hướng dẫn bởi Điều 5 Nghị định 356/2025/NĐ-CP có quy định một trong các quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân là khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đồng thời tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, theo quy định trên, cá nhân, tổ chức có thể kiện hành vi vi phạm thỏa thuận về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao
Để hiểu rõ hơn về các quy định liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.
1. Cách giải quyết tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao sẽ được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 317 Luật thương mại 2005 quy định các hình thức giải quyết tranh chấp trong thương mại như sau:
- Thương lượng giữa các bên.
- Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
- Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.
Theo khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Đồng thời tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Theo đó, cá nhân, tổ chức có thể sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao thông qua: thương lượng, hòa giải hoặc nhờ đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Tòa án và Trọng tài thương mại nếu có thỏa thuận.
2. Nếu hai bên không đạt được đồng thuận trong tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao, họ nên làm gì?
Theo khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Đồng thời tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, trong hợp đồng chuyển giao dữ liệu thường các bên sẽ có điều khoản về giải quyết tranh chấp, nếu tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao phát sinh và các bên không đạt được sự đồng thuận để thống nhất giải quyết thì sẽ thực hiện theo các bước tiếp theo trong hợp đồng. Có nghĩa là sẽ nhờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận giải quyết bằng Trọng tài thương mại thì sẽ do Trọng tài xử lý, còn không thỏa thuận thì vụ việc sẽ do Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
3. Các bước cần thực hiện để bảo vệ quyền lợi trong tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao là gì?
Để bảo vệ quyền lợi khi tranh chấp sử dụng dữ liệu đã chuyển giao, cá nhân, tổ chức cần thực hiện các bước cơ bản sau để bảo vệ quyền lợi của mình:
- Rà soát lại hợp đồng: Xem lại các điều khoản về mục đích sử dụng, phạm vi chuyển giao, quyền truy cập, lưu trữ, thời gian giữ liệu và các nghĩa vụ bảo mật. Xem xét bên nhận chuyển giao có sử dụng dữ liệu ngoài mục đích cho phép, tiết lộ cho bên thứ ba hoặc không áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết khi xử lý dữ liệu.
- Thu thập chứng cứ: Chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến xử lý dữ liệu cá nhân cung cấp các tài liệu liên quan đến việc chuyển giao dữ liệu. Hoặc ghi lại mọi giao dịch, email, hợp đồng, thông báo, nhật ký truy cập liên quan đến việc sử dụng dữ liệu.
- Thương lượng và gửi thông báo về việc vi phạm: Liên hệ đối tác để làm rõ vấn đề, yêu cầu giải thích và đề xuất phương án khắc phục (ngừng sử dụng, bồi thường, cam kết bảo mật). Nếu thương lượng không hiệu quả, gửi công văn/email chính thức, nêu rõ vi phạm, yêu cầu giải quyết và thời hạn thực hiện.
- Khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài thương mại khi thương lượng, hòa giải không thành.
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi trong tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao các bên có thể thực hiện các bước trên.
4. Tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn gì trong hoạt động kinh doanh không?
Tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh, cụ thể:
- Thiệt hại tài chính: Bị xử phạt hành chính theo quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân và phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng bị tổn thất tài chính hoặc uy tín do vi phạm. Đồng thời, tốn kém chi phí pháp lý, chi phí khắc phục sự cố và khôi phục hệ thống.
- Mất uy tín và thương hiệu: Khách hàng, đối tác mất niềm tin vào doanh nghiệp do có tranh chấp về sử dụng dữ liệu. Tổn hại danh tiếng lâu dài, ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị thương hiệu. Doanh nghiệp có hệ thống bảo mật yếu kém sẽ không tạo được niềm tin so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
- Gián đoạn hoạt động kinh doanh: Mất thời gian và nguồn lực để giải quyết tranh chấp thay vì tập trung vào phát triển sản phẩm/dịch vụ. Có thể phải ngừng hoạt động kéo dài nếu dữ liệu bị tấn công hoặc mất mát.
Nhìn chung, tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn đáng kể trong hoạt động kinh doanh.
5. Ai là người giám sát việc giải quyết tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao?
Theo điểm e khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, chủ thể dữ liệu có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến xử lý dữ liệu cá nhân thực hiện các biện pháp, giải pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình theo quy định của pháp luật.
Theo điểm i khoản 1 Điều 37 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định trách nhiệm của bên kiểm soát dữ liệu cá nhân là phối hợp với Bộ Công an, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, cung cấp thông tin phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đồng thời khoản 2 Điều 36 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 cũng quy định Bộ Công an là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trừ nội dung thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
Các cơ quan tài phán (Tòa án và Trọng tài): Khi xảy ra tranh chấp dân sự hoặc thương mại giữa các bên (như vi phạm hợp đồng chuyển giao dữ liệu), vụ việc sẽ được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại theo khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Như vậy, Bộ Công an là cơ quan đầu mối chính chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Và các cơ quan tài phán (Tòa án và Trọng tài) là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao.
V. Bạn đang tìm luật sư giỏi, uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao?
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về tranh chấp về việc sử dụng dữ liệu đã chuyển giao mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.