Thừa kế là một chế định pháp luật quan trọng, đảm bảo quyền lợi của cá nhân đối với tài sản sau khi một người qua đời. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện di chúc, một vấn đề thường phát sinh là quyền thừa kế của người thực hiện di chúc. Quy định hiện nay về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc như thế nào?

I. Sự ảnh hưởng của quyền thừa kế của người thực hiện di chúc trong giai đoạn hiện nay

 

Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và các mối quan hệ tài sản trở nên phức tạp, việc xác định quyền thừa kế của người thực hiện di chúc đang gây ra nhiều tranh cãi và khó khăn trên thực tế. Một mặt, vai trò của người thực hiện di chúc là đảm bảo ý chí của người đã khuất được tôn trọng và thực hiện đúng đắn. Mặt khác, nếu người thực hiện di chúc cũng đồng thời là người thừa kế, có thể phát sinh mâu thuẫn lợi ích, dẫn đến nghi ngờ về sự minh bạch và công tâm trong quá trình phân chia di sản.

Ví dụ về vấn đề liên quan đến quyền thừa kế của người thực hiện di chúc thực tế như: Ông A trước khi chết đã lập di chúc có nội dung chỉ định con trai cả là ông B làm người thực hiện di chúc, quản lý di sản, đồng thời để lại một phần tài sản cho ông B. Sau khi ông A mất, ông B tiến hành các thủ tục quản lý và phân chia di sản theo di chúc. Tuy nhiên, các đồng thừa kế khác nghi ngờ ông B đã lợi dụng việc quản lý di sản, thực hiện di chúc để hưởng lợi nhiều hơn so với ý chí thực sự của người cha. Tình huống này dễ dẫn đến tranh chấp kéo dài, gây rạn nứt tình cảm gia đình.

II. Quyền thừa kế của người thực hiện di chúc là gì?

1. Khái niệm về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế như sau: “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”.

Theo đó, quyền thừa kế của người thực hiện di chúc có thể hiểu đây là trường hợp một người được người để lại di sản chỉ định hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế, để quản lý, phân chia di sản theo đúng ý chí của người đã mất, đồng thời bản thân người đó cũng là một trong những người được hưởng di sản thừa kế từ di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Tại sao cần thực hiện quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

Việc thực hiện quyền thừa kế của người thực hiện di chúc (trong trường hợp họ cũng là người thừa kế) là một phần tất yếu của quy định pháp luật về thừa kế. Việc thực hiện quyền thừa kế qua di chúc giúp bảo đảm ý chí chủ quan của người để lại di sản, tránh việc phân chia tài sản không phản ánh mong muốn thực tế. Đồng thời, đây cũng là công cụ để người lập di chúc có thể cân nhắc, phân bổ tài sản hợp lý cho nhiều đối tượng khác nhau, đặc biệt trong trường hợp có nhiều người thừa kế hoặc có các nhu cầu đặc biệt.

III. Quy định pháp luật liên quan đến quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

1. Trường hợp áp dụng quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

Theo khoản 1, 2 Điều 616 Bộ luật dân sự 2015 về người quản lý di sản: 

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

Người này có thể đồng thời là người thừa kế.

Như vậy, nếu trong di chúc, người lập di chúc chỉ định một người làm người thực hiện di chúc, và người đó cũng là người thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật), thì người đó vẫn được hưởng phần di sản thừa kế của mình theo nội dung di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

Nếu không có di chúc hoặc di chúc không chỉ định người thực hiện di chúc, những người thừa kế theo pháp luật có thể thỏa thuận cử một trong số họ làm người thực hiện di chúc. Người này vẫn được hưởng phần thừa kế của mình theo quy định của pháp luật.

2. Trường hợp không được áp dụng quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

Mặc dù người thực hiện di chúc có thể là người thừa kế, nhưng có những trường hợp đặc biệt khiến người đó không được hưởng quyền thừa kế hoặc bị giới hạn quyền này. Các trường hợp cơ bản như sau:

  • Thuộc trường hợp là người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự 2015:
    • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
    • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
    • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
    • Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
  • Di chúc không đáp ứng đủ điều kiện là di chúc hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015:
    • Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
    • Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Như vậy, khi thuộc một trong những trường hợp trên thì người thực hiện di chúc không được quyền thừa kế di sản theo di chúc.

3. Các biện pháp xử lý vi phạm liên quan quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

Một số biện pháp xử lý trong trường hợp người thực hiện di chúc, quản lý di sản có hành vi vi phạm quy định pháp luật hoặc lạm dụng quyền hạn của mình như sau:

  • Yêu cầu giao lại di sản đang quản lý theo điểm đ khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 617 Bộ luật dân sự 2015.
  • Nếu người thực hiện di chúc có hành vi vi phạm nghĩa vụ và gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo điểm d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 617 Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra, trường hợp người thực hiện di chúc, quản lý di sản có hành vi vi phạm có dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện di chúc còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (ví dụ: Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 về tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan quyền thừa kế của người thực hiện di chúc

1. Khi có tranh chấp về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc, quy trình giải quyết sẽ như thế nào?

Khi phát sinh tranh chấp về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc, quá trình giải quyết thường trải qua các bước sau:

  • Thương lượng, hòa giải: Các bên liên quan (người thực hiện di chúc, những người thừa kế khác) có thể tự thương lượng, hòa giải hoặc gửi đơn yêu cầu hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã khi có tranh chấp xảy ra.
  • Khởi kiện tại Tòa án: Nếu hòa giải không thành hoặc các bên không muốn hòa giải, các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.

2. Quyền thừa kế của người thực hiện di chúc có bị ảnh hưởng bởi việc lập di chúc miệng không?

Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015: “Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”.

Di chúc miệng là một trong những hình thức của di chúc được pháp luật công nhận. Do vậy, di chúc miệng đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực theo quy định thì vẫn có giá trị pháp lý và quyền thừa kế của người thực hiện di chúc theo nội dung di chúc không bị ảnh hưởng bởi hình thức của di chúc.

3. Có cần phải thông báo cho các bên liên quan về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc không?

Pháp luật hiện nay không có quy định bắt buộc phải thông báo riêng về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc. Tuy nhiên, nội dung di chúc phải được công bố với những người liên quan theo quy định tại khoản 3 Điều 647 Bộ luật dân sự 2015: “Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc”.

Như vậy, mặc dù không có quy định cụ thể về việc phải thông báo quyền thừa kế của người thực hiện di chúc, nhưng các thủ tục công bố di chúc sẽ đảm bảo thông tin này được công khai cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

4. Quyền thừa kế của người thực hiện di chúc có thể chuyển nhượng cho người khác không?

Theo Điều 614 Bộ luật dân sự 2015: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Sau khi quyền thừa kế đã phát sinh, người thừa kế có thể từ chối nhận di sản hoặc nếu đã nhận di sản, họ có quyền định đoạt phần tài sản đó theo quy định của pháp luật, bao gồm việc chuyển nhượng cho người khác. Việc chuyển nhượng chỉ áp dụng với phần di sản mà người đó được hưởng.

5. Người thực hiện di chúc có thể từ chối quyền thừa kế của mình không?

Theo khoản 1 Điều 620 Bộ luật dân sự 2015: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Như vậy, người thực hiện di chúc có thể từ chối nhận di sản thừa kế, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

V. Có nên tìm luật sư tư vấn để được hỗ trợ hiệu quả trong tư vấn về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc không?

Trên đây là bài viết của NPLaw về quyền thừa kế của người thực hiện di chúc hiện nay. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.