Quyền khởi kiện là quyền cơ bản của các cá nhân, tổ chức nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, không phải lúc nào việc khởi kiện cũng đạt được kết quả mong muốn. Có những trường hợp sau khi vụ án bị đình chỉ, bị bác đơn hoặc bị tòa án không thụ lý vì những lý do nhất định, đương sự có nhu cầu tiếp tục khởi kiện lại để bảo vệ quyền lợi của mình. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã quy định về quyền khởi kiện lại vụ án nhằm đảm bảo quyền tiếp cận công lý của các bên.

Hình ảnh khởi kiện lại
Bài viết này NPLAW sẽ làm rõ quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định pháp luật hiện hành.
I. Quyền khởi kiện lại vụ án hiện nay
Quyền khởi kiện lại vụ án là quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã từng khởi kiện những vụ án trước đó bị đình chỉ giải quyết vì một số lý do pháp luật cho phép, được tiếp tục nộp đơn khởi kiện mới nhằm yêu cầu tòa án giải quyết lại tranh chấp.
II. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện lại vụ án
1. Trường hợp được quyền khởi kiện lại vụ án
Căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:
“Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
..
c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;”
Căn cứ khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện như sau:
“Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện
...
Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, khi người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì sẽ được nộp đơn khởi kiện lại.
Và đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 192 nêu trên.

Hình ảnh nộp đơn khởi kiện lại
2. Trường hợp không được quyền khởi kiện lại vụ án
Căn cứ khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:
“Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật....”
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 472 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
“Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp
Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
...
d) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng tài.”
Như vậy, trừ các trường hợp được nộp đơn khởi kiện lại nêu trên, nguyên đơn không có quyền khởi kiện lại vụ án dân sự trong trường hợp việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp và vụ án do Tòa án nước ngoài đã ra bản án, quyết định.
3. Thủ tục quyền khởi kiện lại vụ án
Thủ tục khởi kiện lại vụ án tương tự như thủ tục khởi kiện vụ án được quy định cụ thể tại Điều 191 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cụ thể như sau:
- Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.
Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì + Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;
+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
III. Giải đáp một số thắc mắc liên quan đến quyền khởi kiện lại vụ án
1. Rút yêu cầu khởi kiện có được quyền khởi kiện lại vụ án không
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP về trường hợp Tòa án đã Thông báo trả lại đơn khởi kiện với lý do người khởi kiện rút đơn khởi kiện hoặc Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật tố dân sự năm 2015 thì khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với trường hợp điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nêu trên thì đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự đó.
Như vậy, nếu rút yêu cầu khởi kiện sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án và bị đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì có được quyền khởi kiện lại vụ án

Hình ảnh khởi kiện
2. Khởi kiện ly hôn không được Toà án chấp nhận có được quyền khởi kiện lại vụ án không
Theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong trường hợp:
-
Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
-
Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
-
Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
-
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, khởi kiện ly hôn không được Toà án chấp nhận thì có được quyền khởi kiện lại vụ án nếu đã có đủ điều kiện khởi kiện hoặc người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
3. Bị trả lại đơn khởi kiện có được quyền khởi kiện lại vụ án không
Bị trả lại đơn khởi kiện có được quyền khởi kiện lại vụ án nếu thuộc trường hợp tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
4. Quyền khởi kiện lại vụ án trong trường hợp không tham gia phiên tòa lần đầu
Theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp này theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP thì có quyền khởi kiện lại vụ án.
5. Quyền khởi kiện lại vụ án đối với các vụ án đã có bản án có hiệu lực pháp luật
Theo quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam, đối với những vụ án đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, các đương sự không còn quyền khởi kiện lại vụ án. Theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định tòa án phải trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Đối với bản án đã có hiệu lực pháp luật thì chỉ có thể đề nghị xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật thông qua:
-
Thủ tục giám đốc thẩm (khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật).
-
Thủ tục tái thẩm (khi xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản án).
IV. Dịch vụ tư vấn liên quan đến quyền khởi kiện lại vụ án
Khách hàng có thắc mắc liên quan hay có nhu cầu tư vấn quy định về quyền khởi kiện lại vụ án, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được đội ngũ chúng tôi trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết.