Quyền thừa kế cho người khuyết tật là một trong những quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khuyết tật. Điều này đảm bảo rằng người khuyết tật không chỉ được hỗ trợ trong cuộc sống hàng ngày mà còn được công nhận đầy đủ về quyền tài sản và quyền được hưởng thừa kế, phù hợp với các cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam về bình đẳng và không phân biệt đối xử. Thông qua bài viết này, NPLaw xin gửi đến Quý Khách hàng một số thông tin pháp lý hữu ích liên quan đến quyền thừa kế cho người khuyết tật.

I. Tìm hiểu về vấn đề quyền thừa kế cho người khuyết tật trong giai đoạn hiện nay

1. Định nghĩa về quyền thừa kế cho người khuyết tật

Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, quyền thừa kế được hiểu là: 

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Pháp luật Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền thừa kế của người khuyết tật, đảm bảo họ có quyền bình đẳng như mọi công dân khác trong việc hưởng di sản, đồng thời có những quy định đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của họ trong trường hợp cần thiết. Mặc dù không có một quy định riêng biệt định nghĩa về quyền thừa kế cho người khuyết tật, tuy nhiên, theo các quy định chung, có thể hiểu: quyền thừa kế cho người khuyết tật là quyền được tham gia trong quan hệ thừa kế: bình đẳng về quyền thừa kế, được từ chối hoặc đồng ý nhận thừa kế …

2. Trong trường hợp di sản có nhiều người thừa kế, quyền thừa kế cho người khuyết tật được ưu tiên như thế nào?

Theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây, dù không được chỉ định trong di chúc, vẫn được hưởng một phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Điều này đồng nghĩa với việc người bị khuyết tật (đến mức độ không thể lao động) có thể được hưởng phần di sản nhất định ngay cả khi không có tên trong di chúc. Như vậy, quyền ưu tiên của người khuyết tật thể hiện ở việc nhận được di sản thừa kế ngay cả trong trường hợp không được chia theo di chúc.

II. Quy định pháp lý liên quan quyền thừa kế cho người khuyết tật

1. Quyền thừa kế cho người khuyết tật có được quy định trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hay không?

Quyền thừa kế cho người khuyết tật được quy định rõ ràng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, mặc dù không cụ thể hóa chủ thể là người khuyết tật, nhưng các quy định này quy định nguyên tắc chung, không giới hạn quyền lợi của bất kỳ chủ thể nào. Theo Điều 610, Bộ luật Dân sự 2015 thì mọi cá nhân, bao gồm cả người khuyết tật bình đẳng về thừa kế: "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 là cơ sở pháp lý quan trọng nhất quy định về quyền thừa kế của người khuyết tật tại Việt Nam, đảm bảo sự bình đẳng và bảo vệ quyền lợi của họ trong lĩnh vực này.

2. Quy định liên quan quyền thừa kế cho người khuyết tật

Một số quy định chung liên quan đến quyền thừa kế cho người khuyết tại Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

  • Điều 609: Quyền thừa kế - Quy định chung về quyền của cá nhân trong việc lập di chúc, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật, và hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Điều này áp dụng bình đẳng cho mọi cá nhân, bao gồm người khuyết tật.
  • Điều 610: Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân - Khẳng định rõ ràng "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."
  • Điều 613: Người thừa kế - Quy định về điều kiện để trở thành người thừa kế (còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết). Điều này không có bất kỳ hạn chế nào đối với người khuyết tật.
  • Điều 644: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc - Đây là điều khoản quan trọng bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật trong trường hợp họ là con thành niên nhưng không có khả năng lao động. Theo đó, họ vẫn được hưởng một phần di sản nhất định ngay cả khi di chúc không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn.
  • …

3. Có bao nhiêu loại hình thức di chúc có thể bảo vệ quyền thừa kế cho người khuyết tật?

Theo quy định của Điều 627, 628 và Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015, có các hình thức di chúc được pháp luật công nhận và có thể bảo vệ quyền thừa kế cho người khuyết tật như sau:

  • Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
  • Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
  • Di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực
  • Di chúc miệng

4. Quyền thừa kế cho người khuyết tật có được bảo vệ trong các tranh chấp về di sản không?

Quyền thừa kế cho người khuyết tật được bảo vệ rất chặt chẽ trong các tranh chấp về di sản tại Việt Nam, cụ thể như sau:

Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định con thành niên mà không có khả năng lao động (thường do khuyết tật) vẫn được hưởng một phần di sản nhất định, ngay cả khi di chúc không cho hưởng hoặc cho hưởng ít hơn so với phần họ được hưởng theo pháp luật. Quy định này đảm bảo những người yếu thế, bao gồm người khuyết tật, có một khoản tài sản tối thiểu để đảm bảo cuộc sống.

Đồng thời, khi có tranh chấp về di sản thừa kế liên quan đến người khuyết tật, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết. Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và các văn bản pháp luật liên quan để xét xử công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật. Luật Trợ giúp pháp lý 2017 và các văn bản hướng dẫn quy định rõ người khuyết tật (đặc biệt là người khuyết tật có khó khăn về tài chính) là đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí.

Trong trường hợp người khuyết tật bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người giám hộ (được chỉ định theo pháp luật hoặc được ủy quyền) sẽ đại diện họ tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế để bảo vệ quyền lợi của người được giám hộ. Người khuyết tật cũng có quyền ủy quyền cho người khác đại diện mình tham gia giải quyết tranh chấp nếu họ có đủ năng lực hành vi dân sự.

Tóm lại, pháp luật Việt Nam không chỉ thừa nhận mà còn thiết lập các cơ chế cụ thể để bảo vệ quyền thừa kế của người khuyết tật, đặc biệt trong bối cảnh phát sinh tranh chấp di sản, thông qua các quy định về "người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc" và dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí.

III. Các vấn đề thắc mắc liên quan quyền thừa kế cho người khuyết tật

1. Trong trường hợp người khuyết tật chưa đủ tuổi trưởng thành, quyền thừa kế của họ sẽ được xử lý ra sao?

Trường hợp người khuyết tật chưa đủ tuổi trưởng thành, quyền thừa kế của người khuyết tật vẫn được bảo đảm. Về nguyên tắc, người khuyết tật dù chưa đủ tuổi trưởng thành vẫn được bình đẳng về quyền thừa kế. Trường hợp được thừa kế theo di chúc thì hưởng phần di sản tương ứng theo di chúc. Trường hợp không được thừa kế theo di chúc, người khuyết tật chưa đủ tuổi trưởng thành vẫn được hưởng phần thừa kế chia theo pháp luật tương ứng hai phần ba suất thừa kế.

Như vậy, trường hợp người khuyết tật chưa đủ tuổi trưởng thành được pháp luật dự trù và quy định trong các quy định chung về thừa kế.

2. Quyền thừa kế cho người khuyết tật có cần phải thông qua kiểm tra y tế không?

Về nguyên tắc, quyền thừa kế cho người khuyết tật không bắt buộc phải thông qua kiểm tra y tế. Tuy nhiên, vẫn có thể phát sinh trường hợp cần kiểm tra y tế như: Trường hợp chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc là người khuyết tật và không thuộc diện được nhận thừa kế theo di chúc, cần kiểm tra y tế để xác định thuộc đối tượng hưởng di sản theo pháp luật.

3. Nếu người khuyết tật bị từ chối quyền thừa kế, họ có thể khiếu nại lên cơ quan nào?

Khiếu nại là quyền của công dân, do đó, nếu bị xác định không có quyền thừa kế, người đó vẫn có quyền khiếu nại quyết định đó nếu có căn cứ cho rằng quyết định đó là sai và xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Người khuyết tật bị từ chối quyền thừa kế có quyền khiếu nại cơ quan đưa ra quyết định từ chối đó, đó có thể là Tòa án trong quá trình xác định người thừa kế, là Ủy ban nhân dân nơi có tài sản hoặc các cơ quan khác tham gia xem xét, giải quyết quan hệ thừa kế và có ý kiện từ chối quyền thừa kế của người khuyết tật.

Như vậy, nếu người khuyết tật bị từ chối quyền thừa kế, họ có thể khiếu nại lên cơ quan đưa ra quyết định từ chối đó, tùy từng trường hợp.

4. Ai có quyền lập di chúc để quy định quyền thừa kế cho người khuyết tật?

Theo Điều 610, Bộ luật Dân sự 2015 thì mọi cá nhân bình đẳng về thừa kế: "Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật."

Như vậy, mọi người đều có quyền lập di chúc để quy định quyền thừa kế cho người khuyết tật.

5. Trong trường hợp người khuyết tật không thể tự viết di chúc, họ có thể ủy quyền cho ai để đảm bảo quyền thừa kế?

Theo Điều 636 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thủ tục lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã như sau:

Việc lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã phải tuân theo thủ tục sau đây:

1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc…

Căn cứ theo Điều 58 Luật Công chứng 2024  về việc công chứng di chúc như sau:

1. Người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác mà phải tự mình ký hoặc ký và điểm chỉ vào bản di chúc được công chứng. Trường hợp người lập di chúc không ký được và không điểm chỉ được thì việc lập di chúc phải có người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.

Như vậy, trường hợp người khuyết tật không thể tự viết di chúc, người khuyết tật đó có thể tuyên bố nội dung di chúc để đơn vị có thẩm quyền lập để đảm bảo quyền thừa kế, không cần và không có cơ chế ủy quyền lập di chúc.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn liên quan đến quyền thừa kế cho người khuyết tật

Thừa kế nói chung và quyền thừa kế cho người khuyết tật nói riêng là một trong những quy định phức tạp, cần tham vấn ý kiến luật sư để có những hiểu biết sâu sắc, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người khuyết tật.

Hiểu được nhu cầu tìm hiểu quy định về quyền thừa kế cho người khuyết tật của Quý Khách hàng, Công ty Luật TNHH Ngọc Phú sẽ hỗ trợ, tư vấn cho Quý Khách hàng các vấn đề về quyền thừa kế cho người khuyết tật. Quý độc giả có thể liên hệ ngay tới NPLaw để được các luật sư dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn, thủ tục pháp lý của NPLaw tư vấn tận tình và nhanh chóng.