Tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba là một trong những vấn đề được quan tâm tại Việt Nam về quyền sở hữu và các quy định pháp luật liên quan. Bài viết này, sẽ tìm hiểu quy định pháp luật về tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba và giải đáp một số thắc mắc liên quan, từ đó giúp cá nhân, tổ chức hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình.

I. Thực trạng tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba trong giai đoạn hiện nay

Tranh chấp sử dụng công nghệ của bên thứ ba là một vấn đề thường phát sinh trong quá trình hợp tác thương mại, tranh chấp xảy ra khi có xung đột, mâu thuẫn về quyền sở hữu hoặc sử dụng công nghệ giữa các bên. Các trường hợp phổ biến bao gồm việc xác định chủ sở hữu hợp pháp, khởi kiện xâm phạm quyền, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc tranh chấp khác liên quan đến việc sử dụng công nghệ vào những mục đích trái pháp thỏa thuận.

II. Tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba là gì?

Tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba phát sinh khi có bên vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khác trong hợp đồng sử dụng công nghệ, chẳng hạn như vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng trái phép hoặc không tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận. Dưới đây là các quy định liên quan để làm rõ hơn về vấn đề này:

1. Khái niệm về tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Theo khoản 2 Điều 3 Luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025, công nghệ là tập hợp các giải pháp kỹ thuật, quy trình, công cụ, bao gồm cả bí quyết, được tạo ra bởi ứng dụng tri thức khoa học, kinh nghiệm để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

Sử dụng công nghệ của bên thứ ba là việc cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ hoặc sản phẩm công nghệ được cung cấp bởi một tổ chức hoặc cá nhân khác.

Tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba là mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các bên trong quá trình giao kết, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng, liên quan đến quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các bên đã thỏa thuận hoặc được pháp luật quy định về việc sử dụng công nghệ.

2. Các trường hợp dẫn đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Tranh chấp sử dụng công nghệ của bên thứ ba có thể phát sinh do các trường hợp như sau:

  • Vi phạm hợp đồng: Một bên không thực hiện đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng, như không cung cấp đủ dịch vụ, không tuân thủ thời hạn, hoặc cung cấp dịch vụ kém chất lượng.
  • Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ: Sử dụng công nghệ mà không được cấp phép hoặc vượt quá phạm vi cho phép của giấy phép. Sao chép, sửa đổi, hoặc phân phối lại công nghệ độc quyền mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Hoặc vi phạm bằng sáng chế, bản quyền, bí mật thương mại liên quan đến công nghệ.
  • Không đáp ứng yêu cầu về an toàn thông tin: Dịch vụ của bên thứ ba không tuân thủ các quy định về an toàn thông tin của tổ chức, gây rủi ro về bảo mật dữ liệu.
  • Bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu: Công nghệ của bên thứ ba thu thập, lưu trữ, hoặc sử dụng dữ liệu cá nhân của người dùng không đúng quy định pháp luật hoặc không được sự đồng ý của người dùng, xảy ra rò rỉ hoặc mất mát dữ liệu do lỗi bảo mật của bên thứ ba.

3. Cách giải quyết khi xảy ra tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Theo Điều 317 Luật thương mại 2005, quy định hình thức giải quyết tranh chấp như sau:

  • Thương lượng giữa các bên.
  • Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
  • Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.

Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Tòa án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Tòa án do pháp luật quy định.

Như vậy, để giải quyết tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba, cá nhân, tổ chức có thể lựa chọn các phương thức thương lượng, hòa giải, giải quyết tại trọng tài hoặc tòa án tùy theo thỏa thuận và quy định pháp luật.

III. Quy định pháp luật liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh quy định pháp luật Việt Nam có nhiều thay đổi thì việc hiểu và áp dụng đúng các quy định không phải là điều dễ dàng. 

Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về chủ thể cũng như quy trình thừa kế theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Quy định liên quan khi giải quyết tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo Điều 319 Luật thương mại 2005.

Theo Điều 515, 516 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 85 Luật thương mại, quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng công nghệ như sau:

  • Yêu cầu bên cung ứng công nghệ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
  • Trường hợp bên cung ứng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng công nghệ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  • Cung cấp cho bên cung ứng công nghệ, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi.
  • Trả tiền cho bên cung ứng theo thỏa thuận.
  • Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng sử dụng công nghệ một cách thích hợp.

Theo Điều 517, 518 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 78 Luật thương mại, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng công nghệ như sau:

  • Yêu cầu bên sử dụng công nghệ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện công việc.
  • Yêu cầu bên sử dụng công nghệ trả tiền dịch vụ.
  • Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
  • Bảo quản và phải giao lại cho bên sử dụng công nghệ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc.
  • Báo ngay cho bên sử dụng công nghệ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc.
  • Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
  • Bồi thường thiệt hại cho bên sử dụng công nghệ, nếu làm mất, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin.

2. Ai có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Theo quy định tại Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự 2025, tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực.

Trường hợp giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại, theo Điều 2 và Điều 5 Luật trọng tài thương mại 2010 có quy định tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.

Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba sẽ do Tòa án hoặc Trọng tài thương mại giải quyết nếu có thỏa thuận.

3. Hậu quả nếu tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba không thể xử lý?

Nếu tranh chấp về về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba không thể giải quyết, các bên sẽ phải chịu thiệt hại và các hậu quả pháp lý phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng, bao gồm:

  • Mất cơ hội kinh doanh: Do quan hệ hợp tác bị đổ vỡ, các bên không thể tiếp tục thực hiện các kế hoạch kinh doanh đã dự định.
  • Thiệt hại về tài chính: Các bên phải gánh chịu các chi phí phát sinh liên quan đến tranh chấp (chi phí luật sư,án phí,...…), cũng như các thiệt hại về doanh thu, lợi nhuận.
  • Ảnh hưởng đến uy tín: Tranh chấp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và hình ảnh của các bên, đặc biệt là trong trường hợp vụ việc được công khai trên các phương tiện truyền thông.
  • Mất quyền lợi chính đáng: Khi không có sự can thiệp và giải quyết thỏa đáng, các bên có thể không nhận được quyền lợi mà họ đáng lẽ phải được hưởng.

IV. Giải đáp các thắc mắc liên quan tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Để hiểu rõ hơn về tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba và những vấn đề liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba. NPLaw sẽ giải đáp các thắc mắc về nội dung này qua các câu hỏi dưới đây:

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định thế nào trong tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba?

Theo Điều 302, 303 Luật Thương mại 2005, bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

  • Có hành vi vi phạm hợp đồng;
  • Có thiệt hại thực tế;
  • Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba được xác định theo quy định trên.

2. Khi ký hợp đồng, làm thế nào để thẩm định rủi ro dẫn đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba?

Để thẩm định rủi ro dẫn đến tranh chấp về công nghệ của bên thứ ba khi ký hợp đồng, cần xem xét kỹ lưỡng các điều khoản sau:

  • Xem xét quyền sở hữu trí tuệ: Đảm bảo hợp đồng quy định rõ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ, tránh tranh chấp sau này. 
  • Xác định phạm vi sử dụng: Phải làm rõ phạm vi sử dụng công nghệ, mục đích sử dụng, và giới hạn quyền truy cập để tránh lạm dụng. 
  • Thẩm định trách nhiệm pháp lý: Phân định rõ trách nhiệm của mỗi bên nếu xảy ra sự cố, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba, ví dụ như khi công nghệ vi phạm bản quyền hoặc gây thiệt hại cho người dùng. 
  • Thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp: Hợp đồng cần nêu rõ cơ chế giải quyết tranh chấp, bao gồm hòa giải, thương lượng, giải quyết tại tòa án, hoặc trọng tài thương mại. Nên lựa chọn phương thức phù hợp với tính chất của hợp đồng và quy định pháp luật, làm rõ thẩm quyền của tòa án hoặc trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp.
  • Điều khoản về bảo mật thông tin: Đảm bảo hợp đồng có các điều khoản về bảo mật, an ninh dữ liệu, và quy định về việc sử dụng thông tin nhạy cảm, tránh rò rỉ thông tin.

3. Nếu tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba xảy ra tại nhiều quốc gia, luật áp dụng được lựa chọn ra sao?

Căn cứ theo Điều 5 Luật Thương mại 2005 có quy định như sau:

  • Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
  • Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Đồng thời theo Điều 664 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.

  • Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.
  • Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định trên thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

Như vậy, nếu tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba xảy ra tại nhiều quốc gia, luật áp dụng được lựa chọn theo quy định trên.

4. Đối với dự án phần mềm, ai chịu trách nhiệm chính khi có tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba?

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 được  sửa đổi bởi khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2022, phần mềm được xem là chương trình máy tính và là một trong các loại hình được bảo hộ quyền tác giả.

Theo khoản 1 Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019, 2022), Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định.

Như vậy, trong một dự án phần mềm, trách nhiệm chính khi tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba thường thuộc về nhà phát triển, nhà sản xuất, tác giả của phần mềm và các bên liên quan trong hợp đồng cung cấp sử dụng công nghệ.

5. Nếu tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba làm gián đoạn dịch vụ kinh doanh, bên bị thiệt hại có thể đòi bồi thường những gì?

Theo Điều 302 Luật thương mại 2005, bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Đồng thời Điều 304 Luật Thương mại 2005 cũng quy định bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Như vậy, nếu tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba làm gián đoạn dịch vụ kinh doanh, bên bị thiệt hại có thể đòi bồi thường theo quy định trên.

V. Bạn đang tìm một luật sư uy tín để giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về tranh chấp về việc sử dụng công nghệ của bên thứ ba mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.