Trong giao dịch dân sự và kinh doanh, việc đánh giá giá trị tài sản đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, hành vi đánh giá thấp giá trị tài sản một cách cố ý có thể dẫn đến những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng, gây thiệt hại cho Nhà nước, doanh nghiệp hoặc các bên liên quan. Bài viết này của NPLaw sẽ đi sâu phân tích các quy định pháp luật liên quan đến hành vi đánh giá thấp giá trị tài sản, đồng thời chỉ ra những rủi ro và trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể có thể phải đối mặt khi thực hiện hành vi này.
Trong giao dịch dân sự và kinh doanh, việc đánh giá giá trị tài sản đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Tuy nhiên, hành vi đánh giá thấp giá trị tài sản một cách cố ý có thể dẫn đến những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng, gây thiệt hại cho Nhà nước, doanh nghiệp hoặc các bên liên quan. Bài viết này của NPLaw sẽ đi sâu phân tích các quy định pháp luật liên quan đến hành vi đánh giá thấp giá trị tài sản, đồng thời chỉ ra những rủi ro và trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể có thể phải đối mặt khi thực hiện hành vi này.
I. Thực trạng đánh giá thấp giá trị tài sản hiện nay
Thẩm định giá tài sản là một hoạt động không thể thiếu trong các trường hợp cần xác định giá trị tài sản thực tế để phục vụ cho các mục đích khác nhau của cá nhân, tổ chức có nhu cầu hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực trạng đánh giá thấp giá trị tài sản hiện nay vẫn xảy ra khá phổ biến khi không nắm được giá cả thị trường hoặc tự ý định giá mà không thông qua tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp. Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!
II. Quy định pháp luật về đánh giá thấp giá trị tài sản
1. Đánh giá thấp giá trị tài sản là gì?
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về đánh giá thấp giá trị tài sản, tuy nhiên theo khoản 16, 17 Điều 4 Luật Giá 2023 có quy định về thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam. Và tài sản thẩm định giá bao gồm tài sản, hàng hóa, dịch vụ, được cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá theo nhu cầu hoặc các trường hợp pháp luật quy định phải thẩm định giá.

Như vậy, đánh giá thấp giá trị tài sản là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân xác định giá trị của tài sản thẩm định giá thấp hơn so với giá trị thực tế của tài sản đó tại một địa điểm, thời điểm nhất định.
2. Trường hợp nào bắt buộc phải định giá tài sản để tránh đánh giá thấp giá trị tài sản?
Theo khoản 1 Điều 59 Luật Giá 2023, thẩm định giá của Nhà nước được lựa chọn thực hiện trong trường hợp pháp luật có liên quan quy định về việc sử dụng phương thức này là một trong các cơ sở để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét quyết định, phê duyệt giá khi bán, thanh lý, cho thuê, liên doanh, liên kết, chuyển giao tài sản công hoặc mua, đi thuê hàng hóa, dịch vụ, tài sản có sử dụng vốn nhà nước.
Theo khoản 1 Điều 36 Luật Doanh nghiệp 2020 có quy định trường hợp tài sản góp vốn vào doanh nghiệp không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và vàng thì trước hết những tài sản này phải được thẩm định giá bởi các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá và phải được thể hiện thành Đồng Việt Nam. Do đó, nếu tài sản góp vốn vào doanh nghiệp không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và vàng thì cần phải được thẩm định giá để định giá thành Đồng Việt Nam.
Căn cứ theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
- Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;
- Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

Như vậy, khi rơi vào các trường hợp trên thì phải định giá tài sản để tránh đánh giá thấp giá trị tài sản.
3. Ai có thẩm quyền thực hiện việc định giá trong các trường hợp liên quan đến đánh giá thấp giá trị tài sản?
Theo Điều 40 và Điều 59 Luật Giá 2023, hoạt động cung cấp dịch vụ thẩm định giá do doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện, được giao kết bằng hợp đồng dân sự hoặc hoạt động thẩm định giá của Nhà nước do hội đồng thẩm định giá thực hiện theo quyết định của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền quy định pháp luật.
Như vậy, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thẩm định giá được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động hoặc hội đồng thẩm định giá của Nhà nước trong trường hợp có quyết định yêu cầu thẩm định giá là người có thẩm quyền thực hiện việc định giá trong các trường hợp liên quan đến đánh giá thấp giá trị tài sản.
III. Giải đáp một số câu hỏi về đánh giá thấp giá trị tài sản
1. Tổ chức thẩm định giá định giá thấp giá trị tài sản thì có được yêu cầu thẩm định lại không?
Pháp luật về giá không có quy định về việc thẩm định giá lại khi tổ chức thẩm định giá định giá thấp giá trị tài sản, tuy nhiên đối với thẩm định giá của Nhà Nước thì pháp luật có quy định như sau:
Tại khoản 5 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản như sau: Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự.
Như vậy, nếu có đủ căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá trị tài sản thực tế tại thời điểm giải quyết vụ án thì có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định định giá lại tài sản.
2. Định giá tài sản trong tố tụng dân sự liên quan đến đánh giá thấp giá trị tài sản thực hiện theo nguyên tắc nào?
Căn cứ theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
- Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;
- Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.
Hiện nay, nguyên tắc định giá tài sản chưa được hướng dẫn tại văn bản pháp luật cụ thể nào, do đó có thể tham khảo như sau:
- Các bên đương sự tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để xác định giá trị tài sản. Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước.
- Việc định giá tài sản được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản; phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá.
- Bảo đảm trung thực, khách quan, công khai, đúng quy định của pháp luật.
- Giá tài sản được tính bằng đồng Việt Nam.
- Trường hợp tài sản định giá không còn thì việc xác định giá căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc hoặc tham khảo giá của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định. Tài sản cùng loại, tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật được xác định theo quy định của pháp luật.
3. Đánh giá thấp giá trị tài sản góp vốn thì bị xử lý như thế nào?
Hành vi cố ý định giá tài sản góp vốn vào công ty TNHH không đúng giá trị thực tế có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm b khoản 3 Điều 46 Nghị định 122/2021/NĐ-CP như sau: hành vi cố ý định giá tài sản góp vốn vào công ty TNHH không đúng giá trị thực tế có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với tổ chức. Mức phạt đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt này.
4. Đánh giá thấp giá trị tài sản trong hợp đồng mua bán có thể bị tuyên vô hiệu không?
Tại Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo như sau:
- Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác liên quan.
- Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Theo đó, tùy theo trường hợp cụ thể mà hợp đồng mua bán có thể bị tuyên vô hiệu hay không. Nếu hành vi đánh giá thấp giá trị tài sản trong hợp đồng mua bán với mục đích nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác như hành vi cố ý ghi giá trị tài sản mua bán trong hợp đồng thấp hơn so với giá mua bán thực tế hai bên thỏa thuận để trốn thuế hoặc phục vụ cho mục đích khác thì hợp đồng mua bán có thể bị tuyên vô hiệu.
Còn trong trường hợp đánh giá thấp giá trị tài sản so với giá trị thực tế do lỗi sai của doanh nghiệp thẩm định giá và các bên chứng minh được giao dịch này không giả tạo thì hợp đồng không bị vô hiệu.
Như vậy, đánh giá thấp giá trị tài sản trong hợp đồng mua bán có thể bị tuyên vô hiệu tùy theo trường hợp cụ thể nêu trên.
5. Người bị thiệt hại do đánh giá thấp giá trị tài sản có quyền khởi kiện đòi bồi thường không?
Theo Điểm d khoản 2 Điều 56 và điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Giá 2023:
- Khách hàng thẩm định giá, tổ chức, cá nhân có liên quan (nếu có) được ghi trong hợp đồng thẩm định giá có quyền yêu cầu bồi thường trong trường hợp doanh nghiệp thẩm định giá có hành vi vi phạm gây thiệt hại.
- Doanh nghiệp thẩm định giá có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật do vi phạm những thỏa thuận trong hợp đồng thẩm định giá hoặc trong trường hợp hoạt động thẩm định giá gây thiệt hại đến lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân do không tuân thủ các quy định về thẩm định giá.
Đồng thời theo khoản 3 Điều 58 Luật Giá 2023 quy định các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự khi có tranh chấp xảy ra. Như vậy, người bị thiệt hại do đánh giá thấp giá trị tài sản có quyền khởi kiện đòi bồi thường.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về đánh giá thấp giá trị tài sản
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về đánh giá thấp giá trị tài sản mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ ngay với NPLaw.