Trong quá trình tố tụng dân sự, việc Tòa án thụ lý, giải quyết một vụ án không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ và kết thúc bằng một bản án hay quyết định giải quyết toàn bộ nội dung vụ việc. Trong một số trường hợp nhất định, việc giải quyết vụ án có thể bị đình chỉ. Đây là một chế định quan trọng, vừa đảm bảo sự linh hoạt trong hoạt động tố tụng, vừa thể hiện sự tuân thủ các nguyên tắc pháp lý, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Hình ảnh đình chỉ giải quyết vụ án
Bài viết này NPLAW sẽ phân tích quy định pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật hiện hành.
I. Thực trạng đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Hiện nay, việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự diễn ra khá phổ biến tại nhiều Tòa án địa phương. Thực trạng này phản ánh cả mặt tích cực trong việc sàng lọc các vụ án không đủ điều kiện xét xử, nhưng cũng cho thấy nhiều hạn chế trong giai đoạn chuẩn bị khởi kiện và thụ lý vụ án.
Nguyên nhân chủ yếu gồm:
- Nguyên đơn rút đơn khởi kiện do nhận thấy không có đủ chứng cứ hoặc xác định sai quyền lợi;
- Hồ sơ khởi kiện không hợp lệ, vụ án không thuộc thẩm quyền Tòa án;
- Các bên đương sự mất năng lực pháp lý hoặc chết mà không có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng;
- Sự phối hợp yếu giữa các cơ quan như chính quyền địa phương, công chứng, cơ quan quản lý đất đai,... làm chậm quá trình xác minh;
- Và việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các Thẩm phán, đôi khi nhầm lẫn giữa tạm đình chỉ và đình chỉ.
II. Quy định pháp luật về đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
1. Trường hợp đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
- Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
- Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
- Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị xét xử vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
- Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
- Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết;
- Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 mà Tòa án đã thụ lý;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì giải quyết như sau:
- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án;
- Bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn;
- Bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người nào bị khởi kiện theo yêu cầu độc lập trở thành bị đơn.

Hình ảnh đình chỉ
2. Hậu quả của đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như sau:
- Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.
- Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Căn cứ Điều 219 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự gồm:
- Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Hình ảnh giải quyết vụ án
III. Giải đáp một số thắc mắc liên quan đến đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
1. Bị đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự có được khởi kiện lại không?
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Bị ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự có kháng cáo được không?
Theo khoản 4 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo theo quy định pháp luật.
3. Bị đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự có được nhận lại tiền tạm ứng án phí không?
Theo khoản 2, khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định:
- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 217 hoặc vì lý do nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
- Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện quy định tại điểm c và trường hợp khác quy định tại các điểm d, đ, e và g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.
4. Đình chỉ việc giải quyết vụ án do nguyên đơn rút đơn có cần sự đồng ý của bị đơn không?
Theo khoản 4 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án thì Tòa án đồng thời phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có); trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
5. Thời hiệu khởi kiện có được tính lại sau khi vụ án bị đình chỉ việc giải quyết vụ án không?
Căn cứ quy định tại Điều 154, Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 217 và 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về đình chỉ giải quyết vụ án không có quy định nào nêu rõ rằng sau khi đình chỉ thì thời hiệu khởi kiện được tính lại.
Như vậy, sau khi đình chỉ, muốn khởi kiện lại thì nguyên đơn phải đảm bảo thời hiệu khởi kiện vẫn còn và thời hiệu khởi kiện không được tính lại.
IV. Dịch vụ tư vấn liên quan đến đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự
Trên đây là tất cả các thông tin NPLaw cung cấp để hỗ trợ quý khách hàng về vấn đề giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp Quý Khách hàng còn bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến vấn đề nêu trên hoặc các vấn đề pháp lý khác, hãy liên hệ ngay cho NPLaw để được trực tiếp tư vấn và hướng dẫn giải quyết