Mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng là hành vi vi phạm quy định lao động, ảnh hưởng quyền lợi người lao động và có thể bị xử phạt theo pháp luật hiện hành.
Trong thực tế quan hệ lao động hiện nay, tình trạng mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng vẫn còn xảy ra ở nhiều doanh nghiệp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Việc hiểu rõ khái niệm, căn cứ pháp lý cũng như các quy định xử lý liên quan đến mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng là rất cần thiết để người lao động bảo vệ quyền lợi của mình và giúp doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định pháp luật, hạn chế rủi ro tranh chấp lao động.
I. Thực trạng trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hiện nay diễn ra như thế nào?
Hiện nay, tình trạng mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng vẫn còn xảy ra ở một số doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực sử dụng nhiều lao động phổ thông, lao động thời vụ hoặc doanh nghiệp nhỏ. Việc trả lương không đúng mức tối thiểu thường xuất phát từ khó khăn tài chính, thiếu hiểu biết pháp luật hoặc cố tình vi phạm nhằm giảm chi phí nhân công. Thực trạng này dẫn đến nhiều tranh chấp lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống của người lao động, đồng thời gây mất cân bằng trong quan hệ lao động và vi phạm quy định pháp luật về tiền lương.
II. Khái niệm về mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng
Trong pháp luật lao động, mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng là vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi người lao động, cần được làm rõ khái niệm và căn cứ xác định để áp dụng đúng quy định.
1. Mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng là gì?
Theo Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện bình thường, nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và được xác định theo từng vùng.

Từ đó, mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng được hiểu là trường hợp người sử dụng lao động trả cho người lao động mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định áp dụng theo từng vùng tại từng thời điểm, vi phạm nguyên tắc bảo đảm “sàn lương” tối thiểu theo quy định pháp luật.
2. Lương tối thiểu vùng được áp dụng theo tiêu chí nào?
Lương tối thiểu vùng được áp dụng theo nguyên tắc phân chia theo khu vực địa lý, căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, mức sống và thị trường lao động của từng vùng. Theo đó, mức lương tối thiểu được xác định theo vùng và điều chỉnh định kỳ dựa trên mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, quan hệ cung - cầu lao động, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp.
3. Căn cứ nào để xác định một mức lương là thấp hơn lương tối thiểu vùng?
Căn cứ khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, được Chính phủ quy định theo từng vùng nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động.
Theo đó, một mức lương được xác định là thấp hơn lương tối thiểu vùng khi mức lương ghi trong hợp đồng lao động hoặc mức lương thực trả cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố áp dụng tại địa bàn nơi người lao động làm việc tại thời điểm trả lương. Đây là căn cứ trực tiếp để xác định hành vi vi phạm quy định về tiền lương tối thiểu theo Bộ luật Lao động 2019.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng
Người sử dụng lao động không được trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo Bộ luật Lao động 2019. Trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt và buộc trả đủ phần lương còn thiếu cho người lao động.
1. Mức lương tối thiểu vùng hiện nay là bao nhiêu?
Căn cứ Điều 3 Nghị định số 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động được quy định theo 04 vùng như sau:
- Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng (25.500 đồng/giờ)
- Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng (22.700 đồng/giờ)
- Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng (20.000 đồng/giờ)
- Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng (17.800 đồng/giờ)
Đây là mức lương tối thiểu làm căn cứ để doanh nghiệp thỏa thuận và trả lương cho người lao động, bảo đảm không thấp hơn mức quy định theo từng vùng.
2. Người sử dụng lao động có được trả lương thấp hơn mức tối thiểu vùng không?
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghị định 293/2025/NĐ-CP và khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương tối thiểu vùng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương cho người lao động.
Theo đó, người sử dụng lao động không được trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng áp dụng tại địa bàn nơi người lao động làm việc. Trường hợp trả lương thấp hơn mức này là hành vi vi phạm pháp luật lao động và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời buộc truy trả đủ phần tiền lương còn thiếu cho người lao động.
3. Doanh nghiệp phải đảm bảo những nguyên tắc gì khi trả lương cho người lao động?
Căn cứ Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Lao động 2019, khi trả lương cho người lao động, doanh nghiệp phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
- Trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động; trường hợp không thể nhận trực tiếp thì có thể trả cho người được ủy quyền hợp pháp (khoản 1 Điều 94).
- Không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu tiền lương, không được ép buộc người lao động sử dụng lương để mua hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp hoặc đơn vị chỉ định (khoản 2 Điều 94).
- Trả lương căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất và chất lượng công việc (khoản 1 Điều 95).
- Tiền lương phải được trả bằng Đồng Việt Nam (trừ trường hợp người lao động nước ngoài tại Việt Nam có thể thỏa thuận bằng ngoại tệ) (khoản 2 Điều 95).
- Phải cung cấp bảng kê trả lương mỗi lần trả lương, thể hiện rõ các khoản tiền lương, làm thêm giờ, làm ban đêm và các khoản khấu trừ (nếu có) (khoản 3 Điều 95).

Việc không tuân thủ các nguyên tắc trên có thể bị xem là vi phạm quy định về tiền lương trong quan hệ lao động và bị xử lý theo pháp luật.
4. Hành vi trả lương thấp hơn mức tối thiểu vùng bị xử phạt như thế nào?
Căn cứ khoản 3 và khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, hành vi trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định sẽ bị xử phạt hành chính theo các mức sau:
- Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 đến 10 người lao động;
- Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 đến 50 người lao động;
- Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người lao động trở lên.
Ngoài hình thức phạt tiền, người sử dụng lao động còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, cụ thể: buộc trả đủ phần tiền lương còn thiếu cho người lao động và khoản tiền lãi của số tiền chậm trả hoặc trả thiếu, tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt.Trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức, mức phạt tiền sẽ gấp đôi so với cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng
Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp liên quan đến việc trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
1. Việc trả lương thấp hơn mức tối thiểu vùng có ảnh hưởng đến bảo hiểm xã hội không?
Có. Căn cứ Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động hưởng lương do người sử dụng lao động quyết định là tiền lương theo công việc hoặc chức danh và các khoản phụ cấp, bổ sung trả thường xuyên, ổn định theo hợp đồng lao động.
Đồng thời, theo nguyên tắc tiền lương trong quan hệ lao động tại Điều 91 Bộ luật Lao động 2019, mức lương trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Vì vậy, nếu doanh nghiệp trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng thì sẽ kéo theo việc xác định mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội không đúng quy định, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động trong các chế độ bảo hiểm xã hội như ốm đau, thai sản, hưu trí và tử tuất.
2. Nếu doanh nghiệp viện lý do khó khăn tài chính thì có được trả lương dưới mức tối thiểu không?
Không. Căn cứ khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 và quy định về mức lương tối thiểu tại Điều 3 Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.
Theo đó, người sử dụng lao động không được phép trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, kể cả trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính. Việc khó khăn về kinh tế không phải là căn cứ pháp lý để loại trừ nghĩa vụ trả lương tối thiểu theo quy định của pháp luật lao động.
3. Có thể khiếu nại hoặc tố cáo hành vi trả lương thấp hơn mức tối thiểu vùng ở đâu?
Người lao động có thể thực hiện khiếu nại hoặc tố cáo hành vi trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo các kênh sau:
- Khiếu nại trực tiếp tại doanh nghiệp hoặc thông qua bộ phận nhân sự để yêu cầu giải quyết nội bộ.
- Nhờ Công đoàn cơ sở hoặc Công đoàn cấp trên trực tiếp đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo chức năng của tổ chức công đoàn.
- Gửi đơn đến Thanh tra Sở Nội vụ (hoặc cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương) để được kiểm tra, xử lý vi phạm.
- Tố cáo đến Chánh Thanh tra Sở Nội vụ hoặc cơ quan có thẩm quyền theo quy định về pháp luật lao động.
Các cơ quan này có thẩm quyền kiểm tra, xử phạt hành vi vi phạm về tiền lương, bao gồm hành vi trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng theo quy định pháp luật.
4. Người lao động có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị trả lương thấp hơn mức tối thiểu không?
Có. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước khi không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn.
Theo đó, trường hợp người sử dụng lao động trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng (theo quy định pháp luật) được xem là hành vi trả lương không đúng quy định, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động. Vì vậy, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định nêu trên để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
5. Người lao động có thể nhờ công đoàn hỗ trợ khi bị trả lương thấp hơn mức tối thiểu không?
Có. Theo Điều 178 Bộ luật Lao động 2019, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (bao gồm công đoàn) có chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong quan hệ lao động, cụ thể gồm:
- Tham gia thương lượng tập thể với người sử dụng lao động;
- Tham gia đối thoại tại nơi làm việc;
- Đại diện người lao động giải quyết tranh chấp lao động cá nhân khi được ủy quyền;
- Giám sát việc thực hiện các quy định về tiền lương, thang bảng lương, quy chế trả lương.
Vì vậy, khi người lao động bị trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng, họ hoàn toàn có thể:
- Yêu cầu công đoàn cơ sở can thiệp, làm việc trực tiếp với doanh nghiệp;
- Nhờ công đoàn hỗ trợ lập yêu cầu thanh toán tiền lương còn thiếu;
- Hoặc ủy quyền công đoàn tham gia quá trình giải quyết tranh chấp lao động.
Công đoàn là một trong những kênh hỗ trợ hợp pháp và hiệu quả để bảo vệ quyền lợi người lao động trong trường hợp bị trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng
Khi xảy ra tình trạng mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng, người lao động thường khó tự đánh giá đúng mức vi phạm và cách xử lý phù hợp. Luật sư tại NPLaw hỗ trợ:
- Xác định chính xác hành vi trả lương sai quy định theo Bộ luật Lao động 2019;
- Tư vấn hướng xử lý: khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc yêu cầu truy trả lương;
- Hỗ trợ yêu cầu doanh nghiệp trả đủ tiền lương và các quyền lợi liên quan;
- Đại diện làm việc với doanh nghiệp và cơ quan có thẩm quyền.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.