Tìm hiểu về giao dịch liên quan đến ngoại tệ và quy định pháp luật về giao dịch liên quan đến ngoại tệ. Quý khách hàng có thể liên hệ đến NPLaw để được tư vấn pháp lý cụ thể hơn về vấn đề này.
I. Tìm hiểu về giao dịch liên quan đến ngoại tệ
Giao dịch liên quan đến ngoại tệ là một trong những giao dịch phổ biến trên thị trường ngoại hối, là nơi giao dịch tiền tệ giữa các quốc gia khác nhau. Ngoại hối được xem là thị trường lớn và phát triển nhất trong các thị trường tài chính toàn cầu, đối tượng tham gia thị trường ngoại hối gồm các tổ chức tài chính, ngân hàng đầu tư, nhà giao dịch cá nhân và nhà đầu tư. Các giao dịch thông thường được thực hiện thông qua nền tảng trực tuyến giữa các ngân hàng và nhà đầu tư. Các giao dịch trên thị trường ngoại tệ tuân theo quy tắc và quy định của các quốc gia nên việc điều chỉnh và giám sát trở nên phức tạp hơn. Các nhà giao dịch thường xuyên phải theo dõi tình hình kinh tế và chính trị của các quốc gia để đưa ra các quyết định giao dịch phù hợp. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!
II. Quy định pháp luật về giao dịch liên quan đến ngoại tệ
1. Thế nào là giao dịch liên quan đến ngoại tệ?
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể về giao dịch liên quan đến ngoại tệ, tuy nhiên có định nghĩa về ngoại tệ, theo đó, tại khoản 1 Điều 2 Thông tư 07/2012/TT-NHNN và điểm a khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối 2005 ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. Đồng thời cũng quy định ngoại hối bao gồm: đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
Tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Như vậy, có thể hiểu giao dịch liên quan đến ngoại tệ là những hành vi của cá nhân, tổ chức nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ liên quan đến ngoại tệ.
2. Giao dịch liên quan đến ngoại tệ bao gồm những loại nào?
Căn cứ theo khoản 6 Điều 2 Thông tư 02/2021/TT-NHNN đối với giao dịch mua bán ngoại tệ thì hiện nay có các loại hình giao dịch ngoại tệ bao gồm: giao dịch mua, bán ngoại tệ giao ngay; giao dịch mua, bán ngoại tệ kỳ hạn; giao dịch hoán đổi ngoại tệ; giao dịch quyền chọn mua, bán ngoại tệ.
3. Điều kiện để được giao dịch liên quan đến ngoại tệ?
Căn cứ theo Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005 (sđ, bs bởi khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh ngoại hối năm 2013) và Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN thì trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép của Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, tại Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN (sđ, bs bởi Điều 1 Thông tư 03/2019/TT-NHNN và khoản 1 Điều 1 Thông tư 16/2015/TT-NHNN), các trường hợp sau đây được thanh toán bằng ngoại tệ tại Việt Nam như sau:
- Cơ quan hải quan, công an, bộ đội biên phòng và các cơ quan Nhà nước khác tại các cửa khẩu của Việt Nam và kho ngoại quan được niêm yết bằng ngoại tệ và thu bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ người không cư trú đối với các loại thuế, phí thị thực xuất nhập cảnh, phí cung ứng dịch vụ và các loại phí, lệ phí khác theo quy định của pháp luật.
- Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối (sau đây gọi tắt là tổ chức tín dụng được phép) được giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận bằng ngoại hối trong phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối được giao dịch và niêm yết bằng ngoại tệ trong phạm vi cung ứng dịch vụ ngoại hối đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật.
- Người cư trú là tổ chức có tư cách pháp nhân được điều chuyển vốn nội bộ bằng ngoại tệ chuyển khoản giữa tài khoản của tổ chức đó với tài khoản của đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân và ngược lại.
- Người cư trú được góp vốn bằng ngoại tệ chuyển khoản để thực hiện dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
- Người cư trú thực hiện hợp đồng ủy thác nhập khẩu, xuất khẩu
- Người cư trú là nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài
- Người cư trú là doanh nghiệp bảo hiểm
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh hàng miễn thuế được niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa. Ngoại tệ sử dụng trong giao dịch tại cửa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bán hàng miễn thuế.
- Người cư trú là tổ chức cung ứng dịch vụ ở khu cách ly tại các cửa khẩu quốc tế, tổ chức kinh doanh kho ngoại quan được niêm yết, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
- Người cư trú là tổ chức làm đại lý cho hãng vận tải nước ngoài trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết giữa hai bên Người cư trú là doanh nghiệp chế xuất
- Người cư trú là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực vận chuyển hàng không, khách sạn, du lịch được niêm yết, quảng cáo giá hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam và ngoại tệ tương đương trên trang tin điện tử, ấn phẩm chuyên ngành (không bao gồm thực đơn và bảng giá dịch vụ) chỉ sử dụng tiếng nước ngoài.
- Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.
- Người không cư trú là cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự được niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.
- Người không cư trú thực hiện theo quy định sau:
a) Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;
b) Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.
- Các trường hợp khác được phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, chấp thuận căn cứ vào tình hình thực tế và tính chất cần thiết của từng trường hợp.
Như vậy, để được giao dịch liên quan đến ngoại tệ thì phải đáp ứng các điều kiện và/hoặc phải thuộc trường hợp được phép thanh toán bằng ngoại tệ tại Việt Nam.
4. Tổ chức, cá nhân nào được giao dịch liên quan đến ngoại tệ?
- Về việc bán ngoại tệ:
Căn cứ khoản 1 Điều 14 Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định thị trường ngoại tệ là nơi diễn ra hoạt động mua bán các loại ngoại tệ. Đối tượng tham gia thị trường ngoại tệ bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng được phép và khách hàng là người cư trú, người không cư trú tại Việt Nam.
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị định này cũng quy định người cư trú, người không cư trú là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho, tặng, thừa kế, bán cho tổ chức tín dụng được phép, chuyển, mang ra nước ngoài theo các quy định tại Nghị định này, thanh toán cho các đối tượng được phép thu ngoại tệ tiền mặt.
Người cư trú là công dân Việt Nam được sử dụng ngoại tệ tiền mặt để gửi tiết kiệm ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép, được rút tiền gốc, lãi bằng đồng tiền đã gửi.
- Về việc mua ngoại tệ:
Căn cứ quy định tại Điều 7 Pháp lệnh ngoại hối 2005 thì cá nhân được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép để thanh toán nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.
Tuy nhiên, cá nhân có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ hoặc từ các nguồn thu vãng lai khác ở nước ngoài phải chuyển vào tài khoản ngoại tệ mở tại tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam phù hợp với thời hạn thanh toán của hợp đồng hoặc các chứng từ thanh toán, trừ một số trường hợp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét cho phép giữ lại một phần hoặc toàn bộ nguồn thu ngoại tệ ở nước ngoài.
Mọi giao dịch thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phải thực hiện thông qua tổ chức tín dụng được phép.
III. Giải đáp một số câu hỏi về giao dịch liên quan đến ngoại tệ
1. Khi nào giao dịch liên quan đến ngoại tệ bị xem là vô hiệu?
Căn cứ theo Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối 2005 (sđ, bs bởi khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh ngoại hối năm 2013) và Điều 3 Thông tư 32/2013/TT-NHNN thì trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác (bao gồm cả quy đổi hoặc điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ, giá trị của hợp đồng, thỏa thuận) của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép của Ngân hàng Nhà nước.

Từ các quy định nêu trên thì hợp đồng giao dịch có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ là không phù hợp với các quy định nêu trên.
Việc hợp đồng quy định thanh toán ngoại tệ có bị vô hiệu hay không phụ thuộc vào thời điểm giao kết hợp đồng và quy định pháp luật áp dụng. Theo điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015, đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2005.
Căn cứ Điều 128 Bộ luật Dân sự 2005, giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật thì bị vô hiệu. Theo đó, hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ trái với quy định của Pháp lệnh ngoại hối và Thông tư 32/2013/TT-NHNN sẽ bị coi là vi phạm điều cấm của pháp luật và có thể bị tuyên bố vô hiệu.
Tuy nhiên, nếu áp dụng Bộ luật Dân sự 2015, tình hình có sự thay đổi. Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật, không phải điều cấm của pháp luật nói chung và theo Điều 4 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, Pháp lệnh và Thông tư thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bên cạnh Bộ luật, luật.
Do đó, nếu áp dụng Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng có thỏa thuận thanh toán bằng ngoại tệ sẽ không bị coi là vi phạm điều cấm của luật và không bị vô hiệu theo Điều 123. Tuy nhiên, việc này vẫn vi phạm các quy định về quản lý ngoại hối và có thể bị xử phạt hành chính.
2. Tranh chấp phát sinh khi giao dịch liên quan đến ngoại tệ được giải quyết thế nào?
Tranh chấp phát sinh khi giao dịch liên quan đến ngoại tệ có thể được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên hoặc nhờ bên thứ ba có thẩm quyền giải quyết như Tòa án, Trọng tài thương mại nếu các bên có thỏa thuận.
3. Nghĩa vụ của các bên khi thực hiện giao dịch liên quan đến ngoại tệ?
Nghĩa vụ của các bên khi thực hiện giao dịch liên quan đến ngoại tệ sẽ phụ thuộc vào chủ thể tham gia giao dịch là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng được phép và khách hàng là người cư trú, người không cư trú tại Việt Nam. Chẳng hạn như
- Theo Điều 16 Nghị định 70/2014/NĐ-CP, tổ chức tín dụng được phép và tổ chức khác được phép hoạt động ngoại hối khi thực hiện các giao dịch ngoại hối cho khách hàng có trách nhiệm xem xét, kiểm tra, lưu giữ các giấy tờ và các chứng từ phù hợp với các giao dịch thực tế để đảm bảo việc cung ứng các dịch vụ ngoại hối được thực hiện đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Chấp hành nghiêm túc và hướng dẫn khách hàng thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý ngoại hối và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Kiểm tra các giấy tờ, chứng từ liên quan của khách hàng phù hợp với các giao dịch theo quy định tại Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật về quản lý ngoại hối theo khoản 1, 2 Điều 39 Pháp lệnh ngoại hối 2005.
- Người cư trú, người không cư trú có trách nhiệm xuất trình các chứng từ theo quy định của Tổ chức tín dụng (TCTD) khi mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài phục vụ các giao dịch vãng lai và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các loại giấy tờ, chứng từ đã xuất trình cho TCTD được phép theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 70/2014/NĐ-CP).
- Và các nghĩa vụ khác được quy định cụ thể trong mỗi loại giao dịch liên quan đến ngoại tệ đối với từng chủ thể.
4. Có thể hủy giao dịch liên quan đến ngoại tệ khi có sự thay đổi về tỷ giá không?
Tại Điều 14 Thông tư 02/2021/TT-NHNN thì Tổ chức tín dụng được phép và khách hàng xác lập thỏa thuận giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo tối thiểu các nội dung quy định.
Thỏa thuận giao dịch do bộ phận giao dịch của tổ chức tín dụng được phép thực hiện theo quy định tại quy trình giao dịch ngoại tệ nội bộ do tổ chức tín dụng được phép ban hành. Thỏa thuận giao dịch đã xác lập là cam kết không được đơn phương thay đổi, chỉ được thay đổi hoặc hủy bỏ khi hai bên đạt được thỏa thuận bằng văn bản.
Như vậy, về nguyên tắc thỏa thuận giao dịch ngoại tệ nói chung và thỏa thuận có liên quan đến tỷ giá nói riêng trên thị trường ngoại tệ giữa ngân hàng và khách hàng đã xác lập được thay đổi, hủy bỏ chỉ trong trường hợp có sự thỏa thuận giữa 2 bên bằng văn bản.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về giao dịch liên quan đến ngoại tệ
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về giao dịch liên quan đến ngoại tệ mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ với NPLaw theo thông tin liên hệ sau: