Thực trạng về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất và quy định pháp luật về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất. Quý khách hàng có thể liên hệ đến NPLaw để được tư vấn pháp lý cụ thể hơn về vấn đề này.
I. Thực trạng về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất
Trong quá trình sản xuất hàng hóa doanh nghiệp không tránh khỏi việc xuất hiện hàng lỗi. không đạt chất lượng và điều này diễn ra thường xuyên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa ra thị trường. Chính vì thế việc giải quyết, xử lý việc hư hỏng, hàng hóa bị lỗi cũng phải tuân theo những quy định pháp luật. Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây nhé!
II. Quy định pháp luật về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất
1. Thế nào là hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất?
Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất, tuy nhiên căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 có quy định Hàng hóa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị. Và việc hàng hóa bị hỏng trong quá trình sản xuất có thể hiểu là những sản phẩm không đạt chất lượng, hết thời hạn sử dụng, bị lỗi, bị trả lại hoặc yêu cầu thu hồi.
Như vậy, hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất là những sản phẩm không đạt chất lượng, bị lỗi, hết hạn sử dụng bị trả lại hoặc thu hồi trong quá trình kiểm tra, kiểm định chất lượng sản phẩm trước khi được lưu kho và đưa vào phân phối trên thị trường.
2. Trách nhiệm đối với hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất?
Theo quy định tại Điều 10 và Điều 28 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 thì cá nhân, tổ chức sản xuất hàng hóa có trách nhiệm sau:

- Tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường theo quy định và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất.
- Người sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm trong sản xuất như sau:
- Áp dụng hệ thống quản lý nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm do mình sản xuất phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
- Công bố tiêu chuẩn áp dụng quy định và ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa.
- Lựa chọn chứng nhận hợp chuẩn, công bố hợp chuẩn đối với sản phẩm thuộc nhóm 1 là sản phẩm, hàng hóa không có khả năng gây mất an toàn;
- Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến quá trình sản xuất, chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng đối với sản phẩm thuộc nhóm 2 là sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn.
- Việc bảo đảm chất lượng sản phẩm sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ trước khi đưa ra thị trường được thực hiện theo quy định của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
- Kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
- Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hóa và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu huỷ hàng hóa theo quy định của pháp luật.
3. Xử lý hàng hóa bị hỏng trong quá trình sản xuất như thế nào?
Theo quy định tại khoản 8 Điều 10 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007 thì phải kịp thời ngừng sản xuất, thông báo cho các bên liên quan và có biện pháp khắc phục hậu quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc sản phẩm, hàng hóa không phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.
Cá nhân, tổ chức sản xuất hàng hóa nên xây dựng quy trình xử lý hàng lỗi, hư hỏng trong quá trình sản xuất để khắc phục kịp thời tình trạng hư hỏng và giảm tổn thất xuống mức nhỏ nhất trong quá trình sản xuất trước khi đưa vào phân phối trên thị trường.
III. Giải đáp một số câu hỏi về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất
1. Vô ý làm hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất thì có phải bồi thường không?
Theo khoản 1 Điều 61 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, người sản xuất, người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho người bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không bảo đảm chất lượng hàng hóa, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật này. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan hoặc theo quyết định của tòa án hoặc trọng tài.

Theo khoản 1 Điều 62 của Luật này, người sản xuất, người nhập khẩu không phải bồi thường trong các trường hợp sau đây:
a) Người bán hàng bán hàng hóa đã hết hạn sử dụng; người tiêu dùng sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng;
b) Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện;
c) Đã thông báo thu hồi hàng hóa có khuyết tật đến người bán hàng, người sử dụng trước thời điểm hàng hóa gây thiệt hại;
d) Sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật do tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
đ) Trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ để phát hiện khả năng gây mất an toàn của sản phẩm tính đến thời điểm hàng hóa gây thiệt hại;
e) Thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng;
g) Thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, người tiêu dùng.
Như vậy, theo quy định trên việc vô ý làm hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất nếu gây thiệt hại đến người tiêu dùng thì vẫn có trách nhiệm bồi thường.
2. Hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất có được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC được sửa đổi bởi Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC và Công văn 796/TCT-CS năm 2023 theo đó, nếu hàng hóa bị lỗi, hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hóa tự nhiên, hàng hóa hết hạn sử dụng, không được bồi thường thì được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
3. Một bên trong hợp đồng có được yêu cầu hủy hợp đồng khi hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất không?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 12 Điều 3 Luật thương mại 2005 thì vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 426 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp một bên làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng.
Như vậy, một bên trong hợp đồng được yêu cầu hủy bỏ hợp đồng khi bên còn lại vi phạm hợp đồng về việc làm hư hỏng hàng hóa trong quá trình sản xuất mà không thể hoàn trả, đền bù bằng hàng hóa khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng hàng hóa cùng loại.
4. Hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất có ảnh hưởng đến bảo hiểm không?
Bảo hiểm hàng hóa có thể hiểu là một cam kết bồi thường do người bán bảo hiểm bồi thường cho người mua bảo hiểm khi hàng hóa vận chuyển gặp phải tổn thất hoặc hư hỏng do những rủi ro bất khả kháng gây ra (như mưa bão, lũ lụt, cháy nổ…). Theo Điều 36 Luật Thương mại 2005, hàng hóa sẽ được mua bảo hiểm trong quá trình vận chuyển và nghĩa vụ mua bảo hiểm hàng hóa sẽ tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Như vậy, pháp luật không quy định về việc mua bảo hiểm cho hàng hóa trong quá trình sản xuất mà chỉ quy định về bảo hiểm hàng hóa trong quá trình vận chuyển.
5. Có thể yêu cầu bồi thường từ nhà cung cấp nguyên vật liệu khi hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất không?
Theo Điều 59 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, về nguyên tắc thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Trường hợp này, giao dịch giữa nhà cung cấp nguyên vật liệu với người sản xuất hàng hóa là hợp đồng mua bán nguyên vật liệu.
Theo Điều 360 và 361 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Đồng thời, theo quy định tại Điều 302, 303 Luật Thương mại 2005 thì bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng;
- Có thiệt hại thực tế;
- Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
Như vậy, nếu hàng hóa của người sản xuất bị hỏng trong quá trình sản xuất được xác định do lỗi của nhà cung cấp nguyên vật liệu, thì người sản xuất có thể yêu cầu bồi thường từ nhà cung cấp nguyên vật liệu khi hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất do hành vi vi phạm từ nhà cung cấp nguyên vật liệu gây thiệt hại.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về hàng hoá bị hỏng trong quá trình sản xuất
Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về hàng hóa bị hỏng trong quá trình sản xuất mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Nếu Quý độc giả có bất kỳ vướng mắc nào liên quan cần giải đáp thêm, xin vui lòng liên hệ với NPLaw theo thông tin liên hệ sau: