Bài viết phân tích toàn diện thực trạng, khái niệm, hình thức và chế tài xử lý hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh, đồng thời làm rõ quyền khởi kiện và vai trò tư vấn luật sư trong bảo vệ doanh nghiệp.
Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh hiện nay, tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh đang trở thành một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng, làm sai lệch tính công bằng, minh bạch của quá trình đấu thầu và gây thiệt hại trực tiếp cho doanh nghiệp. Không chỉ xuất phát từ rủi ro nội bộ như nhân sự thiếu kiểm soát hay lỏng lẻo trong bảo mật, hành vi này còn tiềm ẩn nhiều hệ quả pháp lý nặng nề nếu bị phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật.
I. Thực trạng liên quan đến tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh
Trong những năm gần đây, tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh diễn ra ngày càng tinh vi, khó phát hiện và gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường cạnh tranh lành mạnh. Hành vi này không chỉ làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu mà còn xâm phạm trực tiếp quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tham gia đấu thầu.
Thực tế cho thấy, việc tuồn thông tin thường xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Lỏng lẻo trong cơ chế quản lý, kiểm soát và bảo mật thông tin nội bộ;
- Nhân sự có quyền tiếp cận hồ sơ thầu nhưng thiếu ý thức tuân thủ quy định bảo mật;
- Lợi ích cá nhân, móc nối giữa người trong doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh;
- Quy trình đấu thầu chưa được số hóa, phân quyền rõ ràng, dẫn đến rò rỉ dữ liệu.

Hệ quả của hành vi tuồn thông tin đấu thầu không chỉ dừng ở việc doanh nghiệp mất cơ hội trúng thầu mà còn có thể dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện, bị loại khỏi quá trình đấu thầu, thậm chí phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân và tổ chức có liên quan. Đây cũng là lý do khiến vấn đề bảo mật thông tin đấu thầu ngày càng được pháp luật siết chặt và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm.
II. Khái niệm về tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh
Tuồn thông tin đấu thầu là hành vi tiết lộ trái phép thông tin liên quan đến hồ sơ, giá dự thầu hoặc phương án kỹ thuật cho đối thủ cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến tính công bằng, minh bạch trong đấu thầu.
1. Tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh là gì?
Tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý tiết lộ, cung cấp, chuyển giao các thông tin liên quan đến hồ sơ dự thầu, hồ sơ mời thầu hoặc quá trình lựa chọn nhà thầu của doanh nghiệp cho bên thứ ba không có thẩm quyền, đặc biệt là đối thủ cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến tính công bằng, minh bạch của hoạt động đấu thầu.
Các thông tin bị tuồn thường là những dữ liệu chưa được công bố chính thức hoặc thuộc diện phải bảo mật theo quy định pháp luật và quy chế nội bộ doanh nghiệp. Hành vi này có thể do cá nhân trong công ty thực hiện hoặc thông qua sự tiếp tay của tổ chức, cá nhân bên ngoài, nhằm tạo lợi thế không chính đáng cho đối thủ cạnh tranh trong quá trình đấu thầu.
Về bản chất, tuồn thông tin đấu thầu là một dạng vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin và nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, tiềm ẩn nguy cơ bị xử lý bằng các chế tài hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả phát sinh.
2. Hành vi tuồn thông tin đấu thầu có thể được thực hiện dưới những hình thức nào?
Trong thực tiễn, tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ trực tiếp đến gián tiếp, phổ biến gồm:
- Cung cấp toàn bộ hoặc một phần hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất kỹ thuật, đề xuất tài chính cho đối thủ cạnh tranh;
- Tiết lộ thông tin về giá dự thầu, phương án kỹ thuật, biện pháp thi công, chiến lược chào thầu trước thời điểm mở thầu;
- Chuyển tiếp tài liệu đấu thầu qua email, mạng xã hội, thiết bị lưu trữ cá nhân hoặc các nền tảng điện tử không được phép;
- Cho đối thủ tiếp cận trái phép hệ thống dữ liệu nội bộ, tài khoản đấu thầu qua mạng;
- Trao đổi miệng, cung cấp “thông tin nội bộ” giúp đối thủ điều chỉnh hồ sơ dự thầu nhằm tạo lợi thế cạnh tranh không chính đáng.
Các hình thức này đều có điểm chung là làm lộ thông tin thuộc diện bảo mật, gây ảnh hưởng đến tính khách quan, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đấu thầu.
3. Việc cung cấp thông tin đấu thầu trước thời điểm mở thầu có bị coi là tuồn thông tin không?
Việc cung cấp thông tin đấu thầu trước thời điểm mở thầu có thể bị coi là tuồn thông tin đấu thầu nếu thông tin đó thuộc phạm vi phải bảo mật theo quy định pháp luật hoặc theo hồ sơ mời thầu, quy chế nội bộ của doanh nghiệp và không được phép công khai tại thời điểm cung cấp.
Ngược lại, trong trường hợp thông tin đã được công bố công khai theo đúng trình tự, hình thức (ví dụ: đăng tải trên hệ thống đấu thầu quốc gia, văn bản làm rõ hồ sơ mời thầu gửi đồng thời cho tất cả nhà thầu tham dự) thì việc cung cấp thông tin trước thời điểm mở thầu không bị coi là tuồn thông tin.

Như vậy, yếu tố then chốt để xác định có hay không hành vi tuồn thông tin đấu thầu là tính chất bảo mật của thông tin, đối tượng được tiếp cận thông tin và thời điểm, cách thức cung cấp thông tin.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh
Pháp luật đấu thầu yêu cầu bảo mật thông tin và nghiêm cấm mọi hành vi tiết lộ, cung cấp trái phép thông tin đấu thầu cho đối thủ cạnh tranh nhằm bảo đảm cạnh tranh công bằng, minh bạch.
1. Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về việc bảo mật thông tin trong quá trình đấu thầu?
Pháp luật hiện hành quy định bảo mật thông tin trong quá trình đấu thầu là nghĩa vụ bắt buộc nhằm bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế của hoạt động đấu thầu.
Trước hết, theo khoản 7 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025), pháp luật nghiêm cấm tiết lộ các tài liệu, thông tin liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trước thời điểm được phép công khai, bao gồm hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, báo cáo đánh giá, biên bản xét thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ bảo mật thông tin được đặt ra cụ thể đối với từng chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu. Cụ thể:
- Chủ đầu tư có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu trong quá trình lựa chọn nhà thầu theo khoản 7 Điều 78 Luật Đấu thầu 2023;
- Bên mời thầu có nghĩa vụ bảo mật thông tin, tài liệu liên quan theo điểm g khoản 1 và điểm g khoản 2 Điều 79 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 39 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025);
- Tổ chuyên gia phải bảo mật thông tin, tài liệu trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư theo khoản 3 Điều 80;
- Tổ thẩm định có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu trong quá trình thẩm định theo khoản 3 Điều 81;
- Nhà thầu, nhà đầu tư chỉ được cung cấp thông tin, tài liệu khi có yêu cầu hợp pháp của cơ quan, người có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin theo khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 82.
Ngoài ra, theo Điều 7 và Điều 8 Luật Đấu thầu 2023 (được hướng dẫn bởi Chương II Thông tư 79/2025/TT-BTC), chỉ những thông tin thuộc diện phải công khai mới được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; đối với các thông tin chưa đến thời điểm công khai hoặc thuộc danh mục bí mật nhà nước, việc tiết lộ là không được phép.
Từ đó ta thấy, việc bảo mật thông tin trong quá trình đấu thầu không chỉ là yêu cầu về mặt nguyên tắc mà còn là nghĩa vụ pháp lý cụ thể, gắn với trách nhiệm của từng chủ thể tham gia đấu thầu. Mọi hành vi tiết lộ thông tin trái quy định, nếu không thuộc trường hợp Luật cho phép, đều bị coi là vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 và pháp luật có liên quan.
2. Hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh bị pháp luật nghiêm cấm ra sao?
Pháp luật hiện hành nghiêm cấm tuyệt đối hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh, coi đây là hành vi xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong hoạt động đấu thầu.
Trước hết, căn cứ khoản 7 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025), pháp luật nghiêm cấm việc tiết lộ các tài liệu, thông tin về quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trước thời điểm được phép công khai theo quy định. Các thông tin này bao gồm, nhưng không giới hạn ở: hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, báo cáo đánh giá, biên bản xét thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Việc cố ý hoặc vô ý cung cấp các thông tin nêu trên cho đối thủ cạnh tranh đều bị coi là hành vi tuồn thông tin đấu thầu và thuộc diện bị cấm.

Bên cạnh đó, tùy theo mục đích và hậu quả, hành vi tuồn thông tin đấu thầu còn có thể đồng thời bị xem xét là thông thầu hoặc gian lận trong đấu thầu. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023, nếu việc tuồn thông tin nhằm dàn xếp, tạo điều kiện cho một bên trúng thầu, hành vi này có thể bị coi là thông thầu. Trường hợp thông tin bị tuồn được sử dụng để làm sai lệch hồ sơ hoặc kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, thì có thể bị xem xét là gian lận theo khoản 4 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023.
Ngoài ra, hành vi tuồn thông tin đấu thầu còn bị coi là vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin của các chủ thể tham gia đấu thầu. Theo khoản 7 Điều 78, điểm g khoản 1 Điều 79, khoản 3 Điều 80 và khoản 3 Điều 81 Luật Đấu thầu 2023, chủ đầu tư, bên mời thầu, tổ chuyên gia và tổ thẩm định đều có trách nhiệm bảo mật thông tin, tài liệu trong quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư. Việc tiết lộ thông tin cho đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với vi phạm trực tiếp các nghĩa vụ pháp lý này.
Tóm lại, tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, vừa vi phạm quy định cấm tại khoản 7 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025), vừa có thể cấu thành thông thầu hoặc gian lận, đồng thời làm phát sinh các hệ quả pháp lý nghiêm trọng như hủy thầu, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu và xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.
3. Những loại thông tin nào trong hồ sơ thầu dễ bị tuồn cho đối thủ cạnh tranh?
Căn cứ khoản 7 Điều 16 Luật Đấu thầu 2023 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025), các loại thông tin trong hồ sơ thầu và quá trình lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư dễ bị tuồn cho đối thủ cạnh tranh và bị pháp luật nghiêm cấm tiết lộ bao gồm:
- Thông tin trong hồ sơ mời thầu trước thời điểm phát hành, gồm:
- Nội dung hồ sơ mời quan tâm;
- Nội dung hồ sơ mời sơ tuyển;
- Nội dung hồ sơ mời thầu;
- Nội dung hồ sơ yêu cầu.
- Thông tin trong hồ sơ dự thầu và quá trình đánh giá hồ sơ, gồm:
- Nội dung hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ đăng ký thực hiện dự án đầu tư kinh doanh;
- Nội dung hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu, nhà đầu tư;
- Nội dung yêu cầu làm rõ hồ sơ của bên mời thầu và nội dung trả lời làm rõ của nhà thầu, nhà đầu tư;
- Báo cáo của bên mời thầu, tổ chuyên gia, tổ thẩm định, nhà thầu tư vấn, cơ quan chuyên môn có liên quan;
- Tài liệu ghi chép, biên bản họp xét thầu, ý kiến nhận xét, đánh giá đối với từng hồ sơ (trước khi được công khai theo quy định).
- Thông tin về kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, gồm: Kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trước thời điểm được công khai theo quy định.
- Tài liệu khác trong quá trình đấu thầu, gồm: Các tài liệu được xác định chứa nội dung bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Các thông tin trong hồ sơ thầu đều là thông tin nhạy cảm và bị nghiêm cấm tiết lộ. Việc tuồn các thông tin này cho đối thủ cạnh tranh khi chưa được phép công khai bị coi là vi phạm pháp luật và làm ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng, minh bạch trong đấu thầu.
4. Mức xử phạt đối với hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh được pháp luật quy định như thế nào?
Hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh là hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu và có thể bị xử lý theo chế tài hành chính, kỷ luật hoặc hình sự, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả gây ra.
Trước hết, theo Điều 87 Luật Đấu thầu 2023 (được hướng dẫn bởi Mục 3 Chương X Nghị định 214/2025/NĐ-CP), tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về đấu thầu, bao gồm hành vi tiết lộ thông tin đấu thầu trái quy định, sẽ bị:
- Xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm;
- Buộc bồi thường thiệt hại nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại cho các bên liên quan;
- Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 06 tháng đến 05 năm đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi bị cấm.
Thẩm quyền quyết định việc cấm tham gia hoạt động đấu thầu thuộc về người có thẩm quyền quản lý dự án, gói thầu; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Tài Chính trong trường hợp cấm trên phạm vi toàn quốc. Quyết định cấm tham gia đấu thầu phải được công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia theo quy định.
Ngoài ra, trong trường hợp hành vi tuồn thông tin đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 (bổ sung bởi Điểm k Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) về Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng. Cụ thể:
- Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm nếu gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm;
- Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 12 năm nếu phạm tội vì vụ lợi, có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, dùng thủ đoạn tinh vi hoặc gây thiệt hại từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng;
- Khung 3: Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm nếu gây thiệt hại từ 01 tỷ đồng trở lên.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh có thể bị xử phạt hành chính, cấm tham gia đấu thầu, buộc bồi thường thiệt hại và trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 và Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh
Phần này làm rõ những câu hỏi phổ biến của doanh nghiệp khi nghi ngờ hoặc phát hiện hành vi tuồn thông tin đấu thầu, từ cách xử lý ban đầu, thu thập chứng cứ đến quyền khởi kiện và trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan.
1. Doanh nghiệp cần làm gì ngay khi nghi ngờ có hành vi tuồn thông tin đấu thầu xảy ra?
Khi nghi ngờ có hành vi tuồn thông tin đấu thầu xảy ra, doanh nghiệp cần chủ động thực hiện đồng thời các biện pháp nội bộ và pháp lý để kịp thời ngăn chặn rủi ro và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Cụ thể:
- Khẩn trương rà soát, khoanh vùng nguồn rò rỉ thông tin, bao gồm kiểm tra quyền truy cập hồ sơ thầu, nhật ký trao đổi dữ liệu, email công việc và các cá nhân, bộ phận có liên quan trực tiếp đến quá trình chuẩn bị và đánh giá hồ sơ thầu.
- Niêm phong, bảo toàn chứng cứ liên quan đến hồ sơ thầu và quá trình lựa chọn nhà thầu, tránh việc sửa đổi, tiêu hủy hoặc tiếp tục bị tiết lộ thông tin, làm căn cứ xác minh và xử lý về sau.
- Tạm thời hạn chế quyền tiếp cận thông tin thầu đối với các cá nhân, đơn vị có dấu hiệu liên quan, đồng thời điều chỉnh quy trình nội bộ để ngăn ngừa rủi ro phát sinh thêm.
- Lập biên bản, báo cáo nội bộ ghi nhận dấu hiệu vi phạm, thời điểm phát hiện, phạm vi thông tin bị nghi ngờ tiết lộ và các cá nhân liên quan, làm cơ sở cho việc xử lý trách nhiệm và làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
- Thông báo kịp thời cho chủ đầu tư, bên mời thầu hoặc người có thẩm quyền (nếu doanh nghiệp là nhà thầu, nhà đầu tư) để phối hợp xác minh, bảo đảm tính khách quan và tuân thủ nghĩa vụ theo pháp luật về đấu thầu.
- Thu thập tài liệu, chứng cứ ban đầu phục vụ việc kiến nghị, khiếu nại hoặc tố giác hành vi vi phạm theo quy định của Luật Đấu thầu và pháp luật có liên quan.
- Tham vấn luật sư hoặc đơn vị tư vấn pháp lý chuyên sâu về đấu thầu để được hướng dẫn cách xử lý phù hợp, tránh rủi ro pháp lý phát sinh từ việc xử lý không đúng trình tự.
Việc phản ứng kịp thời, đúng trình tự ngay khi nghi ngờ có hành vi tuồn thông tin đấu thầu là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp hạn chế thiệt hại, bảo vệ vị thế cạnh tranh và tạo cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân vi phạm.
2. Doanh nghiệp cần thu thập những chứng cứ gì để chứng minh có hành vi tuồn thông tin đấu thầu?
Để chứng minh có hành vi tuồn thông tin đấu thầu, doanh nghiệp cần thu thập các chứng cứ thể hiện hành vi vi phạm, đối tượng vi phạm và mối liên hệ giữa việc lộ thông tin với kết quả đấu thầu, bao gồm:
- Tài liệu, dữ liệu nội bộ liên quan đến hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, thông tin kỹ thuật, giá dự thầu, phương án chào thầu được xác định là thông tin mật trong quá trình đấu thầu.
- Chứng cứ thể hiện việc thông tin bị tiết lộ, như email, tin nhắn, file điện tử, bản in, lịch sử truy cập hệ thống, nhật ký sao chép hoặc truyền dữ liệu.
- Chứng cứ về chủ thể thực hiện hành vi tuồn thông tin, bao gồm hợp đồng lao động, quyết định phân công nhiệm vụ, quyền tiếp cận thông tin đấu thầu của cá nhân hoặc bộ phận liên quan.
- Tài liệu cho thấy đối thủ cạnh tranh đã tiếp cận, sử dụng thông tin đấu thầu, chẳng hạn nội dung hồ sơ dự thầu có sự trùng khớp bất thường về giá, giải pháp kỹ thuật, phương án tài chính.
- Biên bản làm việc, kết luận kiểm tra nội bộ, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc lời khai, bản tường trình của người có liên quan.
Những chứng cứ này là cơ sở để doanh nghiệp làm việc với cơ quan có thẩm quyền hoặc khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện đối với hành vi tuồn thông tin đấu thầu không?
Có. Doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện đối với hành vi tuồn thông tin đấu thầu nếu hành vi này xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và gây thiệt hại thực tế. Cụ thể:
- Theo Điều 87 Luật Đấu thầu 2023, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại. Đây là căn cứ để doanh nghiệp yêu cầu bồi thường thông qua khởi kiện theo quy định của pháp luật.
- Doanh nghiệp có thể khởi kiện dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 khi chứng minh được:
- (i) Có hành vi trái pháp luật (tiết lộ thông tin đấu thầu trái quy định);
- (ii) Có thiệt hại thực tế phát sinh;
- (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại;
- (iv) Có lỗi của tổ chức, cá nhân vi phạm.
- Trường hợp hành vi tuồn thông tin đấu thầu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, doanh nghiệp có quyền tố giác tội phạm và tham gia tố tụng với tư cách người bị hại trong vụ án hình sự theo Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Ngoài khởi kiện, doanh nghiệp còn có quyền kiến nghị, khiếu nại trong quá trình đấu thầu theo Luật Đấu thầu 2023 để yêu cầu hủy thầu, đình chỉ cuộc thầu hoặc không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu nếu hành vi tuồn thông tin làm sai lệch kết quả đấu thầu.
Doanh nghiệp bị thiệt hại hoàn toàn có quyền khởi kiện đối với hành vi tuồn thông tin đấu thầu, đồng thời có thể lựa chọn cơ chế dân sự, hành chính hoặc hình sự phù hợp, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm cũng như mục tiêu bảo vệ quyền lợi của mình.
4. Đối thủ cạnh tranh nhận thông tin đấu thầu có phải chịu trách nhiệm pháp lý liên đới không?
Có thể có. Đối thủ cạnh tranh không đương nhiên phải chịu trách nhiệm pháp lý chỉ vì nhận được thông tin đấu thầu; tuy nhiên, nếu có yếu tố biết rõ, cùng tham gia hoặc sử dụng thông tin trái phép, thì có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý liên đới. Cụ thể:
- Trách nhiệm theo Luật Đấu thầu 2023:
- Theo khoản 7 Điều 16 (được sửa đổi bởi Điểm b Khoản 10 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025), việc tiết lộ và sử dụng trái phép các tài liệu, thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu là hành vi bị nghiêm cấm.
- Nếu đối thủ biết hoặc phải biết thông tin có được là trái quy định nhưng vẫn tiếp nhận, khai thác hoặc sử dụng để tạo lợi thế trong đấu thầu, bị xem xét xử lý vi phạm theo quy định của Luật Đấu thầu 2023 và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị xem xét với vai trò đồng phạm theo điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), có thể bị xử lý theo Điều 87, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và cấm tham gia đấu thầu từ 06 tháng đến 05 năm.
- Trách nhiệm dân sự (liên đới bồi thường):
- Theo Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.
- Nếu chứng minh được đối thủ thỏa thuận, tiếp tay hoặc cùng hưởng lợi từ việc tuồn thông tin, doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường liên đới.
- Trách nhiệm hình sự (nếu đủ yếu tố cấu thành):
- Nếu đối thủ cố ý thông đồng, sử dụng thông tin tuồn để thông thầu, gian lận, hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây hậu quả nghiêm trọng, thì có thể bị truy cứu Tội vi phạm quy định về đấu thầu theo Điều 222 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) với vai trò đồng phạm.
Đối thủ cạnh tranh nhận thông tin đấu thầu chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý liên đới khi có căn cứ chứng minh họ biết rõ nguồn gốc trái pháp luật của thông tin và có hành vi tiếp tay, sử dụng hoặc hưởng lợi. Ngược lại, nếu nhận thông tin một cách không biết, không sử dụng và không hưởng lợi, thì không phát sinh trách nhiệm liên đới.
5. Trường hợp chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể do hành vi tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp có khởi kiện được không?
Có, nhưng phạm vi yêu cầu khởi kiện bị hạn chế. Doanh nghiệp vẫn có thể khởi kiện hoặc thực hiện các cơ chế pháp lý khác ngay cả khi chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể, tuy nhiên chưa thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu không chứng minh được thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả. Cụ thể:
- Theo Bộ luật Dân sự 2015:
- Điều 584 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệt hại thực tế. Do đó, nếu chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể, doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng tiền.
- Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có quyền khởi kiện để yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai (nếu có xâm phạm uy tín) hoặc xác định hành vi trái pháp luật, làm cơ sở cho các yêu cầu pháp lý tiếp theo khi thiệt hại được lượng hóa
Trong trường hợp chưa chứng minh được thiệt hại cụ thể, doanh nghiệp vẫn có quyền khởi kiện hoặc sử dụng các cơ chế pháp lý khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; tuy nhiên, yêu cầu bồi thường thiệt hại chỉ được Tòa án chấp nhận khi doanh nghiệp chứng minh được thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tuồn thông tin và thiệt hại phát sinh.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLAW khi có vấn đề về tuồn thông tin đấu thầu của công ty cho đối thủ cạnh tranh
Tuồn thông tin đấu thầu là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, liên quan trực tiếp đến pháp luật đấu thầu, cạnh tranh, doanh nghiệp và có thể kéo theo trách nhiệm dân sự, hành chính, thậm chí hình sự. Việc được luật sư hỗ trợ sớm giúp doanh nghiệp nhận diện đúng rủi ro và lựa chọn phương án xử lý phù hợp, kịp thời.
- Am hiểu chuyên sâu pháp luật đấu thầu và cạnh tranh: Luật sư NPLAW nắm vững quy định về bảo mật thông tin trong đấu thầu, các hành vi bị nghiêm cấm, trách nhiệm của bên vi phạm và bên liên đới theo pháp luật đấu thầu, pháp luật cạnh tranh và pháp luật dân sự có liên quan.
- Tư vấn đúng trọng tâm, căn cứ pháp lý rõ ràng: Phân tích hành vi có cấu thành tuồn thông tin đấu thầu hay không; xác định trách nhiệm của cá nhân, doanh nghiệp vi phạm; viện dẫn rõ điều, khoản pháp luật áp dụng cho từng tình huống cụ thể.
- Hỗ trợ thu thập chứng cứ và đánh giá thiệt hại: Tư vấn cách thu thập, bảo toàn chứng cứ hợp pháp; đánh giá khả năng chứng minh thiệt hại và cơ sở yêu cầu bồi thường.
- Phòng ngừa rủi ro và giải quyết tranh chấp: Đồng hành cùng doanh nghiệp khi làm việc với bên mời thầu, cơ quan quản lý, hoặc đại diện tham gia thương lượng, khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan có thẩm quyền.
Trên đây là thông tin mang tính tham khảo. Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết cho tình huống tuồn thông tin đấu thầu cụ thể, vui lòng liên hệ Hãng luật NPLAW để được luật sư hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.