Tìm hiểu quy định pháp luật về khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu, mức xử phạt, trách nhiệm hình sự và cách hạn chế rủi ro khi làm thủ tục hải quan.
Khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, từ truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết này của NPLaw phân tích toàn diện quy định pháp luật hiện hành và những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý khi bị cơ quan hải quan nghi ngờ khai báo sai trị giá hàng hóa.
I. Thực trạng về việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu hiện nay
Trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, việc xác định đúng trị giá hải quan của hàng hóa nhập khẩu không chỉ là cơ sở để tính thuế mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, trên thực tế, khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu vẫn là một trong những hành vi vi phạm phổ biến, tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Nhiều vụ việc được phát hiện thông qua việc đối chiếu hóa đơn thương mại, chứng từ thanh toán, hợp đồng mua bán và dữ liệu giá của cơ quan hải quan.
Đối với các trường hợp khai sai làm thiếu số tiền thuế phải nộp, doanh nghiệp có thể bị ấn định thuế, truy thu thuế, tính tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi được thực hiện có chủ đích nhằm trốn thuế với số tiền và tính chất đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vụ việc còn có thể bị chuyển sang cơ quan điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Có thể thấy, việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu không chỉ làm phát sinh rủi ro về tài chính mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp. Vì vậy, việc tuân thủ đúng quy định về xác định trị giá hải quan là giải pháp quan trọng để hạn chế các tranh chấp và rủi ro pháp lý trong hoạt động nhập khẩu.
II. Tìm hiểu chi tiết về khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu
Khai thấp trị giá hải quan để giảm bớt số thuế phải nộp từ lâu đã trở thành một trong những hành vi gian lận thương mại phổ biến và phức tạp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Hành vi này không chỉ trực tiếp gây thất thu cho ngân sách nhà nước, mà còn tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng, gây hệ lụy lớn đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính và nền sản xuất nội địa.
1. Khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu là gì?
Khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu là hành vi khai trị giá hải quan thấp hơn giá thực tế phải trả để làm giảm thuế nhập khẩu, thuế GTGT khâu nhập khẩu và các khoản thuế liên quan. Về pháp lý, hành vi này có thể bị xử lý theo hai hướng: “khai sai dẫn đến thiếu thuế” nếu chưa đủ yếu tố cố ý trốn thuế, hoặc “trốn thuế” nếu có gian dối, chứng từ không đúng thực tế, cấu kết với bên bán hoặc cố ý khai sai.
2. Định lượng số tiền thuế thiếu hụt bao nhiêu thì hành vi khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu bị chuyển sang cơ quan điều tra hình sự?
Căn cứ Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để trốn thuế sẽ bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự khi số tiền thuế trốn từ 100.000.000 đồng (100 triệu) trở lên đối với lần vi phạm đầu tiên. Nếu số tiền thuế trốn dưới 100 triệu đồng nhưng người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã có tiền án về tội trốn thuế chưa được xóa án tích, cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Do đó, số tiền thuế trốn từ 100 triệu đồng trở lên là ngưỡng cứng để chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra hình sự đối với cá nhân. Dưới ngưỡng này, doanh nghiệp/cá nhân có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn. Tuy nhiên, nếu đã có tiền án hoặc đã bị xử phạt hành chính trước đó, dù số tiền thuế trốn dưới 100 triệu đồng vẫn có thể bị khởi tố hình sự.
3. Việc sử dụng hợp đồng giả cách để khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu bị xử lý như thế nào?
Hợp đồng giả cách là hợp đồng mà các bên cố tình thể hiện nội dung không đúng với giao dịch thực tế nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba. Hành vi này được pháp luật xác định là sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp điểm đ khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Đồng thời, đây cũng là hành vi khai sai với thực tế hàng hóa nhập khẩu điểm e, g khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025.

Theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự giả tạo bị vô hiệu. Khi áp dụng vào trường hợp này, hợp đồng giả cách (giá thấp) dùng để khai hải quan bị tuyên vô hiệu do giả tạo, vì các bên xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước. Hợp đồng thực tế (giá thật) vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng các điều kiện của giao dịch hợp pháp. Cơ quan hải quan, cơ quan thuế và cơ quan điều tra sẽ căn cứ vào hợp đồng thực tế (chứ không phải hợp đồng giả cách) để xác định trị giá hải quan, tính thuế và xử lý vi phạm.
Việc sử dụng hợp đồng giả cách để khai thấp trị giá hàng nhập khẩu thuộc nhóm hành vi trốn thuế theo điểm đ, e, g khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Hành vi này cũng được liệt kê tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP về việc sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp, không đúng với thực tế giao dịch để kê khai thuế.
Theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP hành vi này bị phạt 01 lần số tiền thuế trốn nếu không có tình tiết tăng nặng; nếu có tình tiết tăng nặng, mỗi tình tiết tăng nặng mức phạt tăng lên 0,2 lần, nhưng không vượt quá 03 lần số tiền thuế trốn. Cơ quan hải quan có quyền bác bỏ trị giá khai báo theo hợp đồng giả cách và thực hiện ấn định thuế dựa trên trị giá giao dịch thực tế.
Đồng thời, theo khoản 3 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP doanh nghiệp vi phạm buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước, ngoài ra còn phải nộp tiền chậm nộp tính trên số ngày chậm nộp.
Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 169/2026/NĐ-CP, nếu số tiền thuế trốn từ 100.000.000 đồng trở lên thì xem xét xử lý hình sự, không xử phạt hành chính. Nếu dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã có tiền án về tội trốn thuế chưa được xóa án tích, cũng có thể bị truy cứu hình sự.
Tóm lại, việc sử dụng hợp đồng giả cách để khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu không chỉ làm cho giao dịch giả tạo bị vô hiệu mà còn khiến doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ bị ấn định thuế, truy thu, xử phạt vi phạm hành chính và trong trường hợp đủ dấu hiệu theo quy định của pháp luật, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi trốn thuế.
4. Thế nào là hành vi cấu kết với nhà cung cấp nước ngoài để lập bộ hồ sơ kép nhằm khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Hành vi cấu kết với nhà cung cấp nước ngoài để lập bộ hồ sơ kép là việc người nhập khẩu và người xuất khẩu thỏa thuận, thông đồng với nhau tạo ra hai bộ chứng từ thương mại hoàn toàn khác nhau cho cùng một lô hàng nhập khẩu: một bộ ghi giá trị thấp để khai với cơ quan hải quan nhằm trốn thuế, một bộ ghi đúng giá trị thực tế để thanh toán và theo dõi nội bộ. Đây là hành vi trốn thuế điển hình, đã được pháp luật liệt kê cụ thể tại điểm l khoản 1 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP là hành vi "cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa nhằm mục đích trốn thuế".
Có thể thấy, hành vi cấu kết với nhà cung cấp nước ngoài để lập bộ hồ sơ kép không chỉ là vi phạm nghĩa vụ khai báo trung thực trong hoạt động hải quan mà còn là thủ đoạn gian lận có chủ đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế. Vì vậy, doanh nghiệp cần tuyệt đối tránh việc sử dụng các chứng từ không phản ánh đúng giao dịch thực tế và chủ động xây dựng cơ chế kiểm soát hồ sơ nhập khẩu nhằm hạn chế tối đa rủi ro bị xử lý về hành chính hoặc hình sự.
5. Các mặt hàng thuộc danh mục rủi ro cao dễ bị quy kết khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Các mặt hàng có giá trị biến động lớn, khó xác định giá tham chiếu, hoặc có thuế suất nhập khẩu cao thường nằm trong danh mục rủi ro cao về trị giá do cơ quan hải quan xây dựng và cập nhật định kỳ.
Căn cứ phụ lục II ban hành kèm Quyết định 3950/QĐ-TCHQ về danh mục hàng hóa nhập khẩu rủi ro về trị giá, một số nhóm hàng hóa rủi ro cao về trị giá bao gồm: thịt gia súc, gia cầm đông lạnh, ướp lạnh. Nhóm cá tươi, cá đông lạnh, ướp lạnh; sữa, sản phẩm từ sữa; quả tươi ăn được; chế phẩm từ thịt, cá hay động vật giáp xác, động vật thân mềm, động vật thủy sinh không xương sống; rượu, bia; thiết bị vệ sinh;...
Việc một mặt hàng nằm trong danh mục rủi ro cao không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp khai báo là vi phạm. Đây chỉ là cơ sở để cơ quan hải quan đưa hàng hóa vào diện kiểm tra, yêu cầu tham vấn và làm rõ trị giá.
III. Hệ thống quy định pháp luật liên quan đến khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu
Khai thấp trị giá hàng hóa nhập khẩu là một trong những hành vi gian lận thương mại phổ biến nhằm trốn thuế, gây thất thu ngân sách nhà nước và mất cân bằng thị trường. Để ngăn chặn tình trạng này, hệ thống pháp luật Việt Nam đã xây dựng các quy định nghiêm ngặt từ khâu xác định trị giá hải quan, kiểm tra sau thông quan cho đến các chế tài xử phạt hành chính và hình sự nghiêm khắc.
1. Mức xử phạt vi phạm hành chính về thời hạn nộp thuế và hành vi trốn thuế do khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để "né" thuế là hành vi vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Dưới đây là khung mức xử phạt vi phạm hành chính mới nhất áp dụng cho hành vi trốn thuế và chậm nộp tiền thuế mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần đặc biệt lưu ý để tránh các rủi ro tài chính lớn.
Theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP, mức phạt đối với các hành vi trốn thuế tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 169/2026/NĐ-CP dao động từ 1 lần đến 3 lần số tiền thuế trốn, tùy vào số lượng tình tiết tăng nặng.
Nếu hành vi khai thấp giá trị được xác định là khai sai dẫn đến thiếu thuế (không có yếu tố cố tình, gian dối) theo khoản 3 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, người nộp thuế:
- Phải nộp đủ số tiền thuế thiếu.
- Phải nộp tiền chậm nộp theo khoản 2 Điều 16 Luật Quản lý thuế 2025 với mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.
- Bị xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế theo mức thấp hơn hành vi trốn thuế (mức phạt cụ thể được quy định tại Điều 10 Nghị định 169/2026/NĐ-CP).
Tóm lại, việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu dù là vô tình hay cố ý đều phải đối mặt với mức xử phạt tài chính nghiêm trọng, từ tiền chậm nộp 0,03%/ngày cho đến mức phạt gấp 3 lần số thuế trốn. Do đó, việc tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ khai báo trung thực không chỉ giúp doanh nghiệp thượng tôn pháp luật mà còn là giải pháp cốt lõi để phòng ngừa các rủi ro tài chính và bảo vệ uy tín trên thị trường quốc tế.
2. Quy định pháp luật về việc xử lý hệ quả đối với pháp nhân thương mại phạm tội khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Không chỉ cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp với tư cách là pháp nhân thương mại cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu được thực hiện nhân danh doanh nghiệp, vì lợi ích của doanh nghiệp và đáp ứng đầy đủ các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, nếu việc khai báo trị giá hải quan thấp hơn thực tế là chủ trương của doanh nghiệp hoặc được người có thẩm quyền trong doanh nghiệp chỉ đạo nhằm giảm số thuế phải nộp, thì ngoài trách nhiệm của cá nhân liên quan, chính pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu nhằm trốn thuế, pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu về Tội trốn thuế theo Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 nếu đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và số tiền thuế trốn, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 10 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tái phạm nguy hiểm theo quy định của pháp luật, pháp nhân còn có thể bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ chặt chẽ, bảo đảm việc xác định trị giá hải quan và kê khai thuế được thực hiện đúng quy định, qua đó phòng ngừa nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự đối với chính pháp nhân thương mại.
3. Căn cứ pháp lý về việc bồi thường thiệt hại đối với hành vi khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Đối với quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước, hậu quả trực tiếp của việc khai thấp trị giá hàng hóa nhập khẩu là làm giảm số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước. Hành vi cố tình khai thấp trị giá hàng hóa nhập khẩu để giảm số thuế phải nộp là vi phạm pháp luật và không có cơ chế "bồi thường thiệt hại" theo nghĩa dân sự. Thay vào đó, người vi phạm bị xử lý bằng biện pháp truy thu đủ số thuế thiếu, phạt tiền (theo tỷ lệ phần trăm trên số thuế gian lận), tính tiền chậm nộp và trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các chế tài này nhằm bù đắp thất thu cho ngân sách nhà nước (chứ không phải bồi thường cho một bên tư nhân). Cụ thể, cơ quan hải quan có quyền ấn định thuế (truy thu đủ số thuế còn thiếu) và tính tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế. Đây là biện pháp khắc phục hậu quả bắt buộc.
Trong trường hợp hành vi khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu gây thiệt hại cho đối tác, cổ đông, khách hàng hoặc chủ thể khác, trách nhiệm bồi thường được xác định theo các nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo Điều 584 Bộ luật này, người có hành vi xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp luật có quy định khác. Mức bồi thường được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế phát sinh, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi vi phạm và phải được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ hợp pháp theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam không coi việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu là căn cứ đương nhiên làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Doanh nghiệp chỉ phải bồi thường khi hành vi vi phạm gây thiệt hại thực tế cho tổ chức, cá nhân khác và đáp ứng đầy đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.
IV. Giải đáp thắc mắc thường gặp về khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu
Bên cạnh các quy định pháp luật về xử phạt và trách nhiệm hình sự, doanh nghiệp thường phát sinh nhiều vướng mắc trong quá trình làm việc với cơ quan hải quan khi bị nghi ngờ khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu. Dưới đây là những câu hỏi phổ biến cùng phân tích dựa trên các quy định pháp luật hiện hành, giúp doanh nghiệp hiểu đúng quyền, nghĩa vụ và cách thức xử lý nhằm hạn chế tối đa rủi ro pháp lý.
1. Số tiền thuế đã nộp bổ sung có được xem là bằng chứng nhận tội khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu không?
Số tiền thuế đã nộp bổ sung không được xem là bằng chứng nhận tội khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu.
Khoản 4 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025 quy định: nếu người nộp thuế tự nguyện nộp đủ tiền thuế trước thời điểm lập biên bản vi phạm thì hành vi vi phạm có thể được chuyển từ xử phạt trốn thuế (phạt 1-3 lần) sang xử phạt khai sai (phạt 20% số thuế thiếu). Đồng thời, theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, tội trốn thuế chỉ cấu thành khi có đủ các yếu tố:
- Hành vi khách quan (trốn thuế) đã xảy ra.
- Lỗi cố ý (người phạm tội biết rõ hành vi của mình là sai nhưng vẫn thực hiện).
- Số tiền trốn thuế từ 100 triệu đồng trở lên (hoặc dưới 100 triệu nhưng đã bị xử phạt hành chính)
Việc nộp bổ sung không thể thay thế cho việc chứng minh yếu tố cố ý. Cơ quan điều tra phải thu thập các chứng cứ khác (hợp đồng, email, chứng từ thanh toán thực tế, lời khai...) để chứng minh chủ thể biết rõ giá trị thực nhưng cố tình khai sai. Ngược lại, số tiền nộp bổ sung được xem là tình tiết "tự nguyện khắc phục hậu quả" – một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Tóm lại số tiền thuế nộp bổ sung là chứng cứ chứng minh việc khắc phục thiệt hại cho ngân sách nhà nước, chứ không phải chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội hoặc vi phạm hành chính. Người nộp thuế có quyền sử dụng việc nộp bổ sung này để làm căn cứ xin giảm nhẹ hoặc miễn xử phạt, tùy vào thời điểm nộp.
2. Bị can có được hưởng án treo nếu chứng minh được việc khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu là do áp lực từ đối tác cung cấp?
Việc bị can chứng minh hành vi khai thấp giá trị hàng hoá nhập khẩu là do "áp lực từ đối tác cung cấp" không đương nhiên giúp bị can được hưởng án treo, nhưng có thể được xem xét là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị can được hưởng án treo khi hội đủ tất cả các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP được bổ sung bởi Điểm b Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP. Trong trường hợp này, nếu áp lực chỉ dừng ở mức thương lượng, yêu cầu (ví dụ: đối tác yêu cầu kê khai giá thấp hơn để giảm chi phí đầu vào), Toà án sẽ chỉ coi đây là một tình tiết giảm nhẹ thông thường theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Nếu áp lực đạt mức đe doạ, cưỡng bức (điểm k khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 được hướng dẫn bởi Khoản 10 Điều 2, Điều 5 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP), đây sẽ là một tình tiết giảm nhẹ bắt buộc, giúp bị can dễ đáp ứng điều kiện "có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ" hơn. Tuy nhiên, việc có được hưởng án treo hay không còn phụ thuộc vào việc đã nộp đủ thuế (yếu tố quyết định) và các điều kiện khác về nhân thân, mức án.
Có thể thấy, việc chứng minh khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu là do áp lực từ đối tác cung cấp không đồng nghĩa với việc bị can sẽ được hưởng án treo. Tòa án sẽ xem xét toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân và điều kiện luật định để quyết định hình phạt phù hợp trong từng vụ án cụ thể.
3. Doanh nghiệp có bị thu hồi giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu nếu bị kết án về tội khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Doanh nghiệp có thể bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (đăng ký kinh doanh) nếu bị kết án về tội trốn thuế, nhưng không phải là đương nhiên. Việc thu hồi chỉ xảy ra khi doanh nghiệp bị Tòa án tuyên phạt mức hình phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, hoặc khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bị kết án tù và doanh nghiệp không cử được người thay thế trong thời hạn quy định. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể bị thu hồi mã số hải quan (mã số nhập khẩu/xuất khẩu) trong một thời hạn nhất định.
4. Lãnh đạo doanh nghiệp có bị cấm xuất cảnh khi đang trong quá trình tham vấn giá liên quan đến nghi vấn khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Lãnh đạo doanh nghiệp không bị cấm xuất cảnh khi đang trong quá trình tham vấn giá liên quan đến nghi vấn khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu. Theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định 08/2015/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 1 Nghị định 167/2025/NĐ-CP), quy trình "nghi vấn về trị giá khai báo" được thực hiện như sau:
- Cơ quan hải quan thông báo cơ sở nghi vấn, mức giá và phương pháp do cơ quan hải quan dự kiến xác định.
- Hàng hóa được giải phóng (thông quan) ngay.
- Người khai hải quan thực hiện tham vấn với cơ quan hải quan nhằm làm rõ tính chính xác của trị giá khai báo.
Như vậy, tham vấn giá là thủ tục hành chính thuần tuý, hàng hoá đã được giải phóng, và chưa có bất kỳ quyết định xử phạt, ấn định thuế hay cưỡng chế nào được ban hành. Do đó, chưa có căn cứ pháp lý để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Chỉ khi có quyết định ấn định thuế và doanh nghiệp không nộp dẫn đến nợ thuế quá hạn bị cưỡng chế, hoặc khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự, lúc đó lãnh đạo doanh nghiệp mới có thể bị tạm hoãn xuất cảnh.
5. Tại sao việc khai báo các khoản phí vận chuyển không đầy đủ cũng có thể bị xem là khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Việc khai báo không đầy đủ phí vận chuyển bị xem là khai thấp trị giá hàng hóa nhập khẩu vì theo quy định của pháp luật hải quan, chi phí vận chuyển quốc tế là một khoản điều chỉnh cộng bắt buộc để xác định trị giá tính thuế. Theo Điều 13 Thông tư 39/2015/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư 60/2019/TT-BTC), các khoản sau đây phải được cộng vào trị giá giao dịch nếu chưa được gộp trong giá trên hóa đơn:
- Chi phí vận chuyển (cước phí vận tải quốc tế) từ nước xuất khẩu đến cửa khẩu nhập đầu tiên tại Việt Nam.
- Chi phí bảo hiểm của hàng hóa trong quá trình vận chuyển quốc tế.
- Các chi phí khác có liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa đến cửa khẩu nhập.
Do đó, phí vận chuyển không phải là khoản tùy chọn — nó là một bộ phận cấu thành bắt buộc của trị giá tính thuế. Nếu người khai hải quan mua hàng theo điều kiện giao hàng không bao gồm cước; không kê khai hoặc kê khai thấp hơn cước vận tải thực tế ghi trên vận đơn, hợp đồng vận chuyển hoặc hóa đơn cước thì trị giá khai báo sẽ thấp hơn trị giá tính thuế thực tế, làm giảm số thuế nhập khẩu và thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp. Theo khoản 1 Điều 25 Thông tư 38/2015/TT-BTC (được sửa đổi tại khoản 14 Điều 1 Thông tư 121/2025/TT-BTC), việc người khai hải quan không khai hoặc khai không đúng, không đủ các chỉ tiêu về phí vận chuyển trên tờ khai hải quan là căn cứ để cơ quan hải quan bác bỏ trị giá khai báo và thực hiện ấn định thuế, xử phạt.
Tóm lại, phí vận chuyển là một khoản không thể tách rời khi xác định trị giá tính thuế. Việc khai báo thiếu hoặc không đầy đủ khoản này khiến trị giá khai báo thấp hơn trị giá thực tế, từ đó làm giảm số thuế phải nộp. Pháp luật coi đây là hành vi khai sai trị giá (và có thể chuyển thành trốn thuế nếu có yếu tố cố ý), bất kể doanh nghiệp có chủ đích gian lận hay chỉ do sơ suất.
V. Doanh nghiệp đang tìm luật sư có chuyên môn sâu về pháp luật để tư vấn xử lý rủi ro khi bị nghi ngờ khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu?
Khi bị cơ quan hải quan tham vấn giá, kiểm tra sau thông quan hoặc xác định có dấu hiệu khai thấp giá trị hàng hóa nhập khẩu để giảm thuế nhập khẩu, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với nguy cơ bị truy thu thuế, xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu vụ việc có dấu hiệu của tội trốn thuế. Trong giai đoạn này, việc có sự đồng hành của luật sư am hiểu pháp luật về hải quan, thuế và tố tụng hình sự sẽ giúp doanh nghiệp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời hạn chế tối đa những rủi ro pháp lý có thể phát sinh.
Với kinh nghiệm tư vấn và giải quyết nhiều vụ việc liên quan đến hải quan, thuế và trách nhiệm hình sự trong hoạt động xuất nhập khẩu, NPLaw hỗ trợ doanh nghiệp đánh giá toàn diện hồ sơ nhập khẩu, xác định nguyên nhân dẫn đến chênh lệch trị giá hải quan, phân tích mức độ rủi ro pháp lý và xây dựng phương án xử lý phù hợp với từng vụ việc.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.