Kinh doanh vàng lậu tiềm ẩn nguy cơ bị xử phạt, tịch thu tài sản hoặc truy cứu hình sự về tội buôn lậu. Vàng không rõ nguồn gốc, thiếu hóa đơn hoặc nhập khẩu trái phép dễ bị xem là hàng lậu. Doanh nghiệp cần lưu giữ chứng từ hợp lệ, kiểm soát đối tác và xử lý minh bạch để hạn chế rủi ro pháp lý.
Trong bối cảnh thị trường vàng có nhiều biến động, các hoạt động mua bán, trao đổi vàng ngày càng trở nên phức tạp, kéo theo nhiều rủi ro pháp lý tiềm ẩn. Với kinh nghiệm tư vấn thực tiễn, NPLaw nhận thấy hành vi kinh doanh vàng lậu đang là một trong những vấn đề nổi bật, cần được nhận diện đúng để tránh vi phạm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp.
I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến kinh doanh vàng lậu
Trong hoạt động kinh doanh kim hoàn, kinh doanh vàng lậu tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng mà doanh nghiệp thường đánh giá thấp. Trước hết, hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm a khoản 8 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP với mức phạt có thể lên đến 400.000.000 đồng kèm theo biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
Nghiêm trọng hơn, nếu đủ yếu tố cấu thành, hành vi kinh doanh vàng lậu có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), với mức phạt tù có thể lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân tùy theo giá trị hàng hóa. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải đối mặt với rủi ro bị thu hồi giấy phép kinh doanh, mất uy tín thương hiệu và bị yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu gây hậu quả cho đối tác hoặc khách hàng.

Tóm lại, những rủi ro pháp lý từ hành vi kinh doanh vàng lậu không chỉ dừng lại ở các chế tài tài chính nặng nề mà còn có thể dẫn đến hệ lụy hình sự nghiêm trọng và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường. Việc nhận diện đầy đủ các mối nguy này là bước đi tiên quyết để các cơ sở kinh doanh vàng xây dựng chiến lược tuân thủ, bảo vệ uy tín thương hiệu và đảm bảo sự phát triển bền vững trong môi trường quản lý ngày càng siết chặt.
II. Tìm hiểu về kinh doanh vàng lậu
Để hiểu rõ bản chất và phạm vi của hành vi này, cần phân tích các khía cạnh pháp lý cụ thể dưới đây.
1. Thế nào được coi là hành vi kinh doanh vàng lậu?
Hành vi kinh doanh vàng lậu được xác định là việc mua bán, vận chuyển vàng qua biên giới hoặc lưu thông trên thị trường mà không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, không qua cửa khẩu hoặc không đúng quy định về quản lý ngoại hối. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định này; do đó, mọi hành vi xuất nhập khẩu vàng mà không được Ngân hàng Nhà nước cấp phép đều cấu thành hành vi buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Ngoài ra, việc kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ còn bị coi là kinh doanh hàng hóa nhập lậu hoặc hàng hóa không rõ nguồn gốc theo quy định tại Điều 15 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, dẫn đến các hình thức xử phạt hành chính nghiêm trọng hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo giá trị tang vật.
Vì vậy, hiểu rõ các dấu hiệu này giúp cơ sở kinh doanh nhận diện đúng tính chất vi phạm, từ đó tránh được các chế tài hành chính nghiêm trọng hoặc rủi ro truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp tự rà soát và đảm bảo tính tuân thủ trong hoạt động kinh doanh vàng hiện nay.
2. Tại sao việc mua vàng không có hóa đơn đỏ lại bị đánh đồng với kinh doanh vàng lậu?
Việc mua vàng không có hóa đơn đỏ bị đánh đồng với kinh doanh vàng lậu bởi hóa đơn không chỉ là chứng từ kế toán mà còn là căn cứ để truy xuất nguồn gốc và tính hợp pháp của hàng hóa.
Theo Điều 12 Nghị định 24/2012/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 8 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP, các doanh nghiệp kinh doanh vàng bắt buộc phải lập và sử dụng hóa đơn theo quy định; do đó, hóa đơn chính là căn cứ duy nhất để cơ quan chức năng xác định vàng đã được thông quan chính ngạch, sản xuất hợp pháp và hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế.

Khi thiếu chứng từ này, cơ sở kinh doanh không thể chứng minh vàng được giao dịch qua các kênh chính thống do Ngân hàng Nhà nước quản lý, dẫn đến việc mặt hàng bị xếp vào nhóm hàng hóa không rõ nguồn gốc hoặc hàng nhập lậu theo Khoản 6 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP. Nói cách khác, việc không có hóa đơn tạo ra sự không rõ ràng về nguồn gốc, khiến cơ quan chức năng có đủ cơ sở để nghi ngờ số vàng đó được thẩm lậu qua biên giới hoặc kinh doanh ngoài hệ thống kiểm soát nhằm trốn thuế, từ đó áp đặt các chế tài xử lý nghiêm khắc như đối với hành vi buôn lậu.
3. Sự khác biệt về bản chất giữa trốn thuế và kinh doanh vàng lậu là gì?
Trốn thuế và kinh doanh vàng lậu là hai hành vi vi phạm khác nhau về bản chất pháp lý. Trốn thuế là hành vi che giấu doanh thu, kê khai sai, không kê khai hoặc sử dụng chứng từ không hợp pháp nhằm giảm số tiền thuế phải nộp cho Nhà nước. Hành vi này được điều chỉnh tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong khi đó, kinh doanh vàng lậu chủ yếu liên quan đến việc mua bán, vận chuyển hoặc lưu thông vàng không có nguồn gốc hợp pháp, vàng nhập khẩu trái phép hoặc vàng không đáp ứng điều kiện quản lý theo quy định. Tùy tính chất vụ việc, hành vi này có thể bị xử lý về tội buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015.
Trên thực tế, hai hành vi này thường đi kèm với nhau vì vàng không rõ nguồn gốc thường không được kê khai doanh thu, không xuất hóa đơn và không thực hiện nghĩa vụ thuế.
4. Tại sao vàng "xách tay" từ nước ngoài về bán lại bị khép vào tội kinh doanh vàng lậu?
Vàng “xách tay” từ nước ngoài về bán lại thường bị xem là vàng lậu vì hoạt động nhập khẩu vàng là lĩnh vực được Nhà nước quản lý chặt chẽ. Theo Điều 14 Nghị định 24/2012/NĐ-CP (sđ, bs bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP), chỉ các tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép mới được nhập khẩu vàng nguyên liệu. Vì vậy, cá nhân tự mang vàng từ nước ngoài về để kinh doanh, mua bán lại nhưng không thực hiện thủ tục hải quan, không có giấy phép hoặc không chứng minh được nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp thì có thể bị xem là hành vi buôn lậu.
5. Khái niệm "vàng không rõ nguồn gốc xuất xứ" có phải là tên gọi khác của kinh doanh vàng lậu?
“Vàng không rõ nguồn gốc xuất xứ” không hoàn toàn đồng nghĩa với “kinh doanh vàng lậu”, nhưng hai khái niệm này có thể liên quan với nhau trong một số trường hợp cụ thể.
Vàng không rõ nguồn gốc xuất xứ là vàng không có hóa đơn, chứng từ hoặc tài liệu hợp pháp chứng minh nguồn gốc hình thành và quá trình lưu thông của tài sản. Khi cơ quan có thẩm quyền kiểm tra mà không xác định được nguồn gốc hợp pháp của vàng, hàng hóa đó có thể bị xem xét là hàng nhập lậu hoặc hàng hóa lưu thông trái pháp luật theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sđ, bs bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP).
Trong khi đó, kinh doanh vàng lậu là hành vi mua bán, vận chuyển hoặc kinh doanh vàng nhập khẩu trái phép, vàng không được phép lưu thông hoặc vàng có nguồn gốc bất hợp pháp theo khoản 6 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP.
Vì vậy, không phải mọi trường hợp vàng không rõ nguồn gốc đều mặc nhiên là vàng lậu, nhưng đây có thể là căn cứ để cơ quan chức năng xem xét, xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến kinh doanh vàng lậu
Pháp luật Việt Nam đã có hệ thống quy định khá đầy đủ để điều chỉnh và xử lý hành vi này.
1. Quy định mức án như thế nào đối với tội buôn lậu và kinh doanh vàng lậu?
Tội buôn lậu và kinh doanh vàng lậu được xử lý nghiêm khắc thông qua các chế tài hình sự và hành chính tùy theo mức độ vi phạm. Cụ thể, đối với hành vi vận chuyển vàng trái phép qua biên giới, Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định mức án khởi điểm từ phạt tiền đến 6 tháng tù và mức cao nhất lên đến 20 năm tù nếu giá trị hàng hóa từ 1,2 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 1 tỷ đồng trở lên.
Đối với hành vi kinh doanh vàng không hóa đơn, chứng từ, giấy phép sản xuất, kinh doanh mua bán vàng miếng thuộc trường hợp vi phạm được quy định tại khoản 8 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, sẽ bị phạt tiền từ 300-400 triệu đồng, kèm theo hình thức phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ tang vật được quy định tại khoản 9 Điều này.

Trong trường hợp hành vi kinh doanh này cấu thành tội "Trốn thuế" do không xuất hóa đơn để ẩn lậu doanh thu, người vi phạm có thể bị phạt tù đến 7 năm theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015.
2. Mức xử phạt hành chính mới nhất đối với hành vi kinh doanh vàng lậu là bao nhiêu?
Theo Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, hành vi kinh doanh vàng trái quy định pháp luật có thể bị xử phạt hành chính với nhiều mức khác nhau tùy tính chất, mức độ vi phạm. Cụ thể:
- Khoản 3 Điều 28: phạt tiền từ 30 triệu đến 50 triệu đồng đối với hành vi sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, không ghi nhãn hàng hóa hoặc không niêm yết công khai giá mua bán vàng.
- Điểm d Khoản 5 Điều 28: phạt tiền từ 140 triệu đến 180 triệu đồng đối với hành vi thực hiện sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ mà không đáp ứng đủ điều kiện được phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ theo quy định của pháp luật
- Điểm a khoản 8 Điều 28: phạt tiền từ 300 triệu đến 400 triệu đồng đối với hành vi sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng
Ngoài ra, Khoản 9 Điều 28 còn quy định hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, đình chỉ hoạt động kinh doanh từ 6 đến 12 tháng, hoặc thu hồi giấy phép kinh doanh vàng miếng nếu tái phạm nhiều lần.
3. Quy định về việc chứng minh nguồn gốc nguyên liệu chế tác để loại bỏ nghi vấn kinh doanh vàng lậu?
Để chứng minh nguồn gốc nguyên liệu và loại bỏ nghi vấn kinh doanh vàng lậu, các doanh nghiệp phải thiết lập hệ thống chứng từ chặt chẽ theo quy định của pháp luật về kế toán và kinh doanh vàng.
Cụ thể, theo khoản 8 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP, đơn vị chế tác phải lưu giữ đầy đủ hóa đơn tài chính (đối với nguyên liệu mua từ doanh nghiệp) hoặc Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn (Mẫu số 02/TNDN) đối với vàng mua lại từ cá nhân theo quy định của pháp luật thuế.
Các chứng từ này phải thể hiện rõ tên, địa chỉ người bán, số lượng, hàm lượng vàng và thời điểm giao dịch để đảm bảo tính đối soát khi cơ quan quản lý kiểm tra theo Nghị định 98/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, doanh nghiệp cần thực hiện việc công bố tiêu chuẩn chất lượng và ghi nhãn hàng hóa đúng quy định để chứng minh hàng hóa được sản xuất, chế tác hợp pháp tại cơ sở đã đăng ký, thay vì hàng hóa trôi nổi nhập lậu qua biên giới.
4. Điều kiện để một tiệm vàng được phép xuất nhập khẩu vàng mà không bị coi là kinh doanh vàng lậu?
Để một tiệm vàng (doanh nghiệp) được phép xuất nhập khẩu vàng mà không bị coi là kinh doanh vàng lậu, đơn vị đó phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt về giấy phép và thẩm quyền được quy định bởi Nhà nước.
Cụ thể, theo Điều 10 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.
Ngoài ra, việc xuất nhập khẩu phải tuân thủ đúng quy định về hải quan, có đầy đủ hóa đơn, chứng từ tài chính hợp lệ và thực hiện đúng các thủ tục kiểm tra chất lượng. Mọi hành vi tự ý đưa vàng qua biên giới mà không có các loại giấy phép chuyên ngành nêu trên đều cấu thành hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa hoặc buôn lậu theo Điều 188 hoặc Điều 189 Bộ luật Hình sự 2015, bất kể mục đích sử dụng là kinh doanh hay chế tác.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến kinh doanh vàng lậu
Trong thực tế kinh doanh vàng, không ít cá nhân và doanh nghiệp rơi vào tình huống bị nghi ngờ liên quan đến kinh doanh vàng lậu dù không trực tiếp thực hiện hành vi nhập lậu hoặc buôn bán trái phép. Vì vậy, dưới đây là những thắc mắc thường gặp liên quan đến kinh doanh vàng lậu mà cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý.
1. Cơ quan chức năng có quyền tịch thu toàn bộ số vàng nếu kết luận đó là kinh doanh vàng lậu đúng không?
Cơ quan chức năng có thể tịch thu toàn bộ số vàng nếu xác định đây là tang vật của hành vi kinh doanh vàng lậu hoặc hàng hóa nhập lậu theo quy định pháp luật. Theo khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 17 Nghị định 98/2020/NĐ-CP (sđ, bs bởi điểm a khoản 3 Điều 1 Nghị định 24/2025/NĐ-CP) có thể bị phạt Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị dưới 1.000.000 đồng hoặc cao hơn tùy theo giá trị tang vật vi phạm.
Ngoài ra, nếu vụ việc có dấu hiệu hình sự, vật chứng liên quan đến tội Buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng có thể bị tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, việc tịch thu phải dựa trên kết quả xác minh, chứng cứ và quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, không phải mọi trường hợp vàng không có hóa đơn đều mặc nhiên bị tịch thu toàn bộ.
2. Mua lại vàng trang sức cũ của khách vãng lai không có hóa đơn, có bị khép tội kinh doanh vàng lậu?
Việc tiệm vàng mua lại vàng trang sức cũ của khách vãng lai không có hóa đơn không đương nhiên bị khép tội kinh doanh vàng lậu hay hàng hóa không rõ nguồn gốc, miễn là cơ sở thực hiện đúng quy trình quản lý chứng từ theo pháp luật về thuế.
Cụ thể, do cá nhân bán tài sản riêng không có nghĩa vụ xuất hóa đơn, cơ sở kinh doanh bắt buộc phải tự hợp thức hóa đầu vào bằng cách lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn (Mẫu số 02/TNDN). Một bộ hồ sơ thu mua hợp pháp, đủ sức bảo vệ tiệm vàng trong các đợt thanh tra đột xuất phải bao gồm Bảng kê ghi rõ chi tiết sản phẩm, chữ ký xác nhận của hai bên, bản sao Căn cước công dân của người bán và chứng từ thanh toán hợp lệ.
Ngược lại, nếu tiệm vàng duy trì thói quen mua bán trao tay, không lập hồ sơ thu mua và không lưu trữ thông tin định danh của khách hàng vãng lai, số vàng đó sẽ không có căn cứ chứng minh nguồn gốc. Khi bị kiểm tra, lực lượng chức năng xem xét hồ sơ giao dịch, sổ theo dõi, nguồn gốc hình thành tài sản để xác định có thuộc trường hợp hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng hay không theo Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP.
3. Vàng được thừa kế từ ông bà không có giấy tờ, khi mang ra tiệm bán có bị tính là kinh doanh vàng lậu?
Vàng được thừa kế từ ông bà nhưng không còn giấy tờ không mặc nhiên bị xem là kinh doanh vàng lậu. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản do người chết để lại là di sản thừa kế hợp pháp. Nếu cá nhân mang vàng đi bán để chuyển nhượng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình thì về bản chất đây không phải hoạt động buôn lậu hay kinh doanh vàng trái phép.
Tuy nhiên, khi giao dịch số lượng lớn hoặc bị cơ quan chức năng kiểm tra, người bán có thể được yêu cầu giải trình nguồn gốc tài sản. Trường hợp không có hóa đơn, chứng từ, người sở hữu nên cung cấp các căn cứ khác như di chúc, xác nhận của gia đình, hình ảnh lưu giữ hoặc tài liệu chứng minh quá trình quản lý, sử dụng thực tế. Hiện nay chưa có quy định bắt buộc vàng thừa kế phải có hóa đơn đầu vào như hàng hóa thương mại, nhưng việc không chứng minh được nguồn gốc hợp lý vẫn có thể phát sinh rủi ro bị nghi ngờ là vàng không rõ nguồn gốc.
4. Nếu đối tác cung cấp vàng nguyên liệu dùng giấy tờ giả, có bị liên đới tội kinh doanh vàng lậu?
Doanh nghiệp có thể bị liên đới tội kinh doanh vàng lậu hoặc tội buôn lậu nếu không chứng minh được sự ngay tình trong quá trình giao dịch khi đối tác sử dụng giấy tờ giả. Theo Điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), nếu cơ quan chức năng có căn cứ cho thấy doanh nghiệp biết hoặc buộc phải biết nguồn gốc bất hợp pháp của vàng nhưng vẫn chấp nhận các giấy tờ giả mạo để hợp thức hóa đầu vào, doanh nghiệp sẽ bị coi là đồng phạm với vai trò người giúp sức hoặc người tiêu thụ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, đối soát thông tin đối tác và lưu trữ hồ sơ giao dịch đúng quy định tại Điều 12 Nghị định 24/2012/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP mà không thể phát hiện ra sự giả mạo tinh vi, doanh nghiệp được xem là bên ngay tình và có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn phải đối mặt với việc bị tịch thu tang vật theo quy định về xử lý vật chứng.
5. Phải xử lý thế nào nếu vô tình phát hiện mình vừa nhập phải lô hàng từ nguồn kinh doanh vàng lậu?
Khi phát hiện sự việc, doanh nghiệp cần ngừng ngay việc kinh doanh, lưu thông lô hàng, tiến hành kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ và chủ động thông báo hoặc phối hợp với cơ quan chức năng để xử lý. Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm của bên cung cấp và chuẩn bị phương án khắc phục hậu quả như hoàn trả, thu hồi hàng hoặc yêu cầu bồi thường. Việc chủ động, thiện chí hợp tác sẽ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm nếu có vi phạm. Tóm lại, xử lý kịp thời và minh bạch là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro pháp lý.
V. Bạn đang tìm luật sư giỏi, uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến kinh doanh vàng lậu?
Trong bối cảnh pháp lý ngày càng siết chặt, việc tuân thủ quy định và phòng ngừa rủi ro là yếu tố sống còn. Một đơn vị tư vấn pháp lý chuyên sâu sẽ giúp doanh nghiệp kiểm soát hoạt động kinh doanh, rà soát hồ sơ và xử lý tình huống phát sinh một cách hiệu quả. NPLaw với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực thương mại và kim hoàn sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc tư vấn, bảo vệ quyền lợi và xây dựng hệ thống pháp lý vững chắc.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.