Bài viết phân tích quyền hạn, điều kiện pháp lý và các rủi ro khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty theo quy định pháp luật hiện hành.
Trong quá trình hoạt động, việc người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có thể phát sinh trong nhiều giao dịch như chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản hoặc tái cấu trúc doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp người đại diện theo pháp luật đều có quyền tự quyết định việc bán tài sản, đặc biệt khi tài sản có giá trị lớn hoặc liên quan đến lợi ích của cổ đông và chủ sở hữu. Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ quyền hạn, điều kiện pháp lý, quy trình cần tuân thủ và những rủi ro pháp lý thường gặp khi người đại diện theo pháp luật thực hiện giao dịch bán tài sản của công ty theo quy định của pháp luật hiện hành.
I. Rủi ro pháp lý phổ biến liên quan đến người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty
Việc người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có thể phát sinh nhiều rủi ro pháp lý nếu giao dịch không được thực hiện đúng thẩm quyền, không tuân thủ quy trình nội bộ hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông và chủ sở hữu.
- Rủi ro vượt quá thẩm quyền đại diện khi bán tài sản của công ty: Người đại diện theo pháp luật chỉ được thực hiện giao dịch trong phạm vi quyền đại diện của mình theo Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015. Đối với tài sản có giá trị lớn, thẩm quyền quyết định thường thuộc về cơ quan quản lý nội bộ của công ty. Chẳng hạn theo điểm d khoản 2 Điều 55 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025, Hội đồng thành viên có quyền thông qua việc bán tài sản có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên theo báo cáo tài chính gần nhất hoặc tỷ lệ khác theo Điều lệ công ty.
- Rủi ro phát sinh giao dịch có xung đột lợi ích hoặc giao dịch với bên liên quan: Trong thực tế, tài sản của công ty có thể được bán cho cá nhân, tổ chức có liên quan đến người quản lý hoặc cổ đông của doanh nghiệp. Theo quy định về giao dịch với người có liên quan tại Điều 167 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, các giao dịch này phải được công khai và được cơ quan có thẩm quyền trong công ty chấp thuận. Nếu việc bán tài sản không được phê duyệt đúng quy trình hoặc nhằm mang lại lợi ích cá nhân cho người quản lý, giao dịch có thể bị vô hiệu và cá nhân liên quan có thể phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp.

- Rủi ro phát sinh trách nhiệm dân sự hoặc hình sự nếu việc bán tài sản nhằm chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp: Người quản lý doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng và vì lợi ích của công ty theo quy định tại khoản 1 Điều 165 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025. Nếu người đại diện theo pháp luật lợi dụng chức vụ để bán tài sản của công ty nhằm chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp, cá nhân này có thể phải bồi thường thiệt hại. Trong trường hợp có dấu hiệu tội phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại Điều 355 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025.
Vì vậy, việc kiểm soát thẩm quyền và minh bạch giao dịch là yếu tố quan trọng để hạn chế rủi ro pháp lý khi bán tài sản của công ty.
II. Tìm hiểu về người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty
Để hiểu rõ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý trong giao dịch này, cần xem xét các vấn đề cơ bản liên quan đến người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty.
1. Người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty là ai và vai trò của họ trong công ty như thế nào?
Trong hoạt động của doanh nghiệp, việc người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty thường gắn với thẩm quyền đại diện và quản lý tài sản của doanh nghiệp. Người đại diện theo pháp luật là cá nhân được doanh nghiệp chỉ định để thay mặt công ty xác lập và thực hiện các giao dịch, bao gồm cả việc ký kết hợp đồng liên quan đến tài sản của công ty theo khoản 1 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2025.
Trong vai trò của mình, người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm nhân danh doanh nghiệp thực hiện các giao dịch phát sinh trong quá trình hoạt động, bảo đảm các quyết định được thực hiện đúng thẩm quyền và vì lợi ích của công ty. Theo quy định về đại diện tại Điều 139 của Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch do người đại diện xác lập trong phạm vi đại diện sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ trực tiếp đối với doanh nghiệp.
Như vậy, người đại diện theo pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quyết định và thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản của công ty. Tuy nhiên, việc bán tài sản phải được thực hiện trong phạm vi thẩm quyền và tuân thủ quy định của pháp luật cũng như quy chế nội bộ của doanh nghiệp để bảo đảm tính hợp pháp của giao dịch.
2. Trong trường hợp nào người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty cần sự chấp thuận của hội đồng quản trị hoặc chủ sở hữu?
Trong hoạt động doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật có thể ký kết các giao dịch liên quan đến tài sản của công ty, nhưng không phải mọi trường hợp đều được tự quyết định. Đối với những giao dịch quan trọng hoặc có giá trị lớn, việc bán tài sản của công ty thường phải có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nội bộ như Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, trong một số trường hợp người đại diện theo pháp luật chỉ được ký kết và thực hiện giao dịch sau khi đã có nghị quyết hoặc quyết định chấp thuận hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền trong doanh nghiệp, tùy vào loại hình:

- Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo Điều 55;
- Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần theo Điều 153;
- Chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Điều 75.
Cụ thể như đối với công ty cổ phần theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 153 Hội đồng quản trị quyết định bán cổ phần chưa bán trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại. Sau đó, người đại diện theo pháp luật sẽ thay mặt và thực hiện cho doanh nghiệp việc bán theo quy định của doanh nghiệp.
Mặc dù người đại diện theo pháp luật có quyền đại diện cho công ty trong giao dịch, việc bán tài sản vẫn phải tuân thủ đúng thẩm quyền và quy trình phê duyệt nội bộ để bảo đảm tính hợp pháp và tránh phát sinh tranh chấp pháp lý.
3. Người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có thể bán cho bên liên quan (người thân, công ty liên kết) không và cần làm gì để đảm bảo minh bạch?
Trong hoạt động doanh nghiệp, việc người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty cho bên liên quan như người thân, doanh nghiệp có liên kết vẫn có thể được thực hiện. Nhưng đây là giao dịch tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích nên pháp luật đặt ra các cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, các giao dịch giữa công ty với người có liên quan của người quản lý doanh nghiệp phải được công khai và được cơ quan có thẩm quyền trong công ty chấp thuận, như Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông tùy loại hình doanh nghiệp (Điều 67 đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên; Điều 86 đối với công ty TNHH một thành viên; Điều 167 đối với công ty cổ phần). Đồng thời, người có lợi ích liên quan không được tham gia biểu quyết đối với giao dịch đó nhằm bảo đảm tính minh bạch và khách quan.
Cho nên, người đại diện theo pháp luật vẫn có thể thực hiện việc bán tài sản cho bên liên quan, nhưng phải công bố đầy đủ thông tin về mối quan hệ, xin chấp thuận đúng thẩm quyền nội bộ và thực hiện giao dịch theo giá trị, điều kiện minh bạch để tránh rủi ro vô hiệu giao dịch hoặc phát sinh trách nhiệm pháp lý.
4. Khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty, quyền lợi của cổ đông thiểu số được bảo vệ như thế nào?
Trong quá trình người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty, quyền lợi của cổ đông thiểu số vẫn được pháp luật doanh nghiệp bảo vệ thông qua các cơ chế kiểm soát nội bộ và quyền giám sát của cổ đông.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 quyền của cổ đông phổ thông trong công ty cổ phần, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần phổ thông trở lên (hoặc tỷ lệ thấp hơn theo điều lệ) có quyền xem xét, tra cứu thông tin. Đồng thời, họ cũng có quyền yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc yêu cầu kiểm tra hoạt động quản lý của công ty nếu phát hiện giao dịch có dấu hiệu gây thiệt hại cho doanh nghiệp theo khoản 2 Điều này.
- Trong công ty cổ phần, các giao dịch bán tài sản có giá trị lớn hoặc vượt thẩm quyền quản lý thông thường phải được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua theo Điều 138 và Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025. Qua đó tạo cơ chế để cổ đông thiểu số tham gia biểu quyết hoặc giám sát quyết định.
Nhờ các quyền tiếp cận thông tin, quyền yêu cầu họp và quyền khởi kiện người quản lý khi gây thiệt hại cho công ty, cổ đông thiểu số có công cụ pháp lý để bảo vệ lợi ích của mình khi phát sinh các giao dịch liên quan đến việc bán tài sản của doanh nghiệp.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty
Để hiểu rõ phạm vi quyền hạn và trách nhiệm khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty, cần xem xét các quy định pháp luật liên quan cũng như cách xử lý khi phát sinh giao dịch vượt thẩm quyền hoặc không đúng quy trình.
1. Luật doanh nghiệp quy định thế nào về quyền của người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty?
Quyền của người đại diện theo pháp luật trong việc bán tài sản của công ty được xác định trên cơ sở quyền đại diện và phạm vi thẩm quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định pháp luật. Theo đó Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 quy định như sau:
- Theo khoản 1 Điều 12, người đại diện theo pháp luật là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Tòa án, Trọng tài. Trên cơ sở quyền đại diện này, người đại diện theo pháp luật có thể nhân danh công ty ký kết và thực hiện các giao dịch liên quan đến việc quản lý, chuyển nhượng hoặc bán tài sản của doanh nghiệp.
- Tuy nhiên, quyền bán tài sản của công ty không phải lúc nào cũng được thực hiện độc lập mà phải tuân theo thẩm quyền quyết định của các cơ quan quản lý nội bộ. Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, điểm h khoản 2 Điều 153 quy định Hội đồng quản trị có quyền quyết định mua, bán tài sản có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản của công ty ghi trong báo cáo tài chính gần nhất, trừ trường hợp Điều lệ quy định tỷ lệ khác. Đối với giao dịch có giá trị lớn hơn mức này thì phải được Đại hội đồng cổ đông thông qua theo điểm d khoản 2 Điều 138.

Vì vậy, người đại diện theo pháp luật chủ yếu là người thực hiện và ký kết giao dịch bán tài sản trên cơ sở nghị quyết hoặc quyết định hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền trong công ty.
2. Quy trình xử lý khi phát hiện người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty vượt quá giới hạn giao dịch?
Khi phát hiện người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty vượt quá giới hạn giao dịch, việc xử lý thường được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm bảo đảm tính minh bạch và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp.
- Xác minh thẩm quyền và nội dung giao dịch: Trước hết cần kiểm tra hợp đồng, nghị quyết nội bộ và điều lệ công ty để xác định người đại diện theo pháp luật có vượt quá phạm vi quyền hạn hay không. Theo khoản 1 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, người đại diện theo pháp luật chỉ được nhân danh doanh nghiệp thực hiện giao dịch trong phạm vi quyền và nghĩa vụ được giao, do đó việc bán tài sản vượt thẩm quyền có thể bị xem xét lại về tính hợp pháp.
- Báo cáo và yêu cầu ban lãnh đạo xem xét: Vấn đề cần được báo cáo cho ban lãnh đạo phù hợp để đánh giá giao dịch và quyết định biện pháp xử lý. Chẳng hạn, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định đối với các giao dịch tài sản quan trọng của công ty theo quy định về thẩm quyền quản lý tại Điều 55, Điều 153 và Điều 138 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
- Quyết định biện pháp khắc phục hoặc xử lý trách nhiệm: Sau khi xem xét, công ty có thể yêu cầu hủy bỏ, điều chỉnh hoặc không công nhận giao dịch nếu xác định việc bán tài sản của người đại diện theo pháp luật vượt thẩm quyền hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Trường hợp hành vi của người đại diện theo pháp luật là người quản lý gây thiệt hại, công ty hoặc cổ đông có thể yêu cầu bồi thường trách nhiệm theo khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
Tóm lại, khi phát hiện người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty vượt quá giới hạn giao dịch, doanh nghiệp cần tiến hành kiểm tra tính hợp pháp của giao dịch, báo cáo cơ quan quản lý có thẩm quyền và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp
3. Khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty mà không được sự ủy quyền, đó có phải là vi phạm và hậu quả pháp lý là gì?
Trong hoạt động quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật có quyền nhân danh công ty thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản, nhưng quyền này phải nằm trong phạm vi thẩm quyền được giao theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu người đại diện theo pháp luật tự ý bán tài sản của công ty khi không có sự ủy quyền hoặc không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong doanh nghiệp thì có thể được xem là hành vi vượt quá phạm vi đại diện.
Khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty mà không được sự ủy quyền trong phạm vi đại diện thì đó là vi phạm. Hậu quả pháp lý là giao dịch có thể bị xem xét lại về hiệu lực. Người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh nếu việc bán tài sản gây tổn thất cho công ty, vì người quản lý doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng và vì lợi ích của công ty theo khoản 1 Điều 165 của Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
Việc bán tài sản của công ty không đúng thẩm quyền không chỉ tiềm ẩn rủi ro vô hiệu giao dịch mà còn có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với người đại diện theo pháp luật.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty
Trong thực tiễn, việc người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty thường phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm và cách xử lý tranh chấp. Một số thắc mắc thường gặp được giải đáp dưới đây:
1. Người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có thể ủy quyền cho người khác thực hiện thương vụ không?
Trong hoạt động quản lý doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật không phải lúc nào cũng trực tiếp thực hiện toàn bộ các giao dịch của công ty. Trong một số trường hợp, họ có thể ủy quyền cho cá nhân khác thay mặt mình thực hiện việc bán tài sản của doanh nghiệp nếu việc ủy quyền được thực hiện hợp pháp.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập và thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện theo ủy quyền. Vì vậy, người đại diện theo pháp luật của công ty có thể lập văn bản ủy quyền để người khác thay mặt thực hiện thương vụ bán tài sản, với điều kiện việc ủy quyền không trái với điều lệ công ty và vẫn nằm trong phạm vi thẩm quyền của doanh nghiệp.
Việc ủy quyền sẽ hợp pháp nếu được thực hiện đúng hình thức và phạm vi pháp luật cho phép. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với giao dịch được thực hiện nhân danh doanh nghiệp.
2. Pháp luật quy định trách nhiệm hình sự nào nếu người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty nhằm chiếm đoạt tài sản?
Người đại diện theo pháp luật có quyền quản lý và định đoạt tài sản của công ty nhưng phải thực hiện vì lợi ích của doanh nghiệp. Các giao dịch thực hiện phải trong phạm vi đại diện theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015.
Nếu lợi dụng quyền này để bán tài sản của công ty nhằm chiếm đoạt cho mục đích cá nhân thì hành vi đó không còn là giao dịch kinh doanh thông thường mà có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. Chẳng hạn, người đại diện theo pháp luật lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản do mình quản lý thì có thể bị truy cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025.
Khi việc bán tài sản của công ty được thực hiện với mục đích chiếm đoạt, người đại diện theo pháp luật không chỉ phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
3. Khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có tranh chấp, thủ tục khởi kiện dân sự áp dụng ra sao?
Khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty có thể phát sinh tranh chấp nếu giao dịch bị cho là vượt thẩm quyền, gây thiệt hại hoặc vi phạm quyền lợi của công ty và cổ đông. Khi đó, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chuẩn bị đơn khởi kiện và tài liệu chứng minh theo quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi bổ sung 2025.
- Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo Điều 30 của luật này.
- Sau khi thụ lý, Tòa án tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ và xét xử để xác định tính hợp pháp của giao dịch và trách nhiệm của các bên liên quan.
Các bên có thể sử dụng cơ chế khởi kiện dân sự tại Tòa án để yêu cầu giải quyết và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến việc bán tài sản của công ty.
4. Trường hợp người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty nhưng cố tình che giấu nợ thế chấp, vi phạm này bị xử lý ra sao?
Trong giao dịch bán tài sản của công ty, người đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực và bảo đảm tài sản được chuyển nhượng hợp pháp. Nếu người này cố tình che giấu việc tài sản đang được thế chấp hoặc đang bị ràng buộc nghĩa vụ tài chính, hành vi đó có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ trung thực trong quản lý doanh nghiệp và làm phát sinh trách nhiệm pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
Nếu việc che giấu thông tin làm cho bên mua hiểu sai về tình trạng pháp lý của tài sản thì giao dịch có thể bị yêu cầu tuyên vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015. Đồng thời, người đại diện theo pháp luật có thể phải bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc bên liên quan nếu hành vi này gây tổn thất
Trong trường hợp hành vi che giấu nợ thế chấp của người đại diện theo pháp luật nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự. Ví dụ có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Việc che giấu tình trạng thế chấp của tài sản không chỉ làm phát sinh rủi ro vô hiệu giao dịch mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự hoặc hình sự đối với người đại diện theo pháp luật.
5. Có quy định nào bắt buộc bên mua xác nhận tình trạng pháp lý khi người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty không? Vì sao?
Trong giao dịch mua bán tài sản của công ty, pháp luật không có quy định bắt buộc bên mua phải xác nhận tình trạng pháp lý của tài sản trước khi giao dịch. Tuy nhiên, trên thực tế bên mua thường phải chủ động kiểm tra thông tin pháp lý của tài sản để bảo đảm giao dịch hợp pháp và hạn chế rủi ro.
Dựa vào quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được xác lập trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Cho nên mỗi bên phải tự chịu trách nhiệm về việc xác minh thông tin liên quan đến giao dịch. Đồng thời, trong trường hợp tài sản đang bị thế chấp hoặc bị hạn chế quyền định đoạt mà bên mua không kiểm tra đầy đủ, giao dịch có thể phát sinh tranh chấp hoặc bị ảnh hưởng về hiệu lực pháp lý theo quy định của pháp luật dân sự.
Mặc dù pháp luật không bắt buộc bên mua phải xác nhận tình trạng pháp lý của tài sản, việc kiểm tra thông tin về quyền sở hữu, tình trạng thế chấp hoặc nghĩa vụ liên quan vẫn là bước cần thiết để bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch.
V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến người đại diện theo pháp luật bán tài sản của công ty?
Nếu phát sinh vướng mắc pháp lý liên quan đến việc bán tài sản của doanh nghiệp, việc tham khảo ý kiến chuyên gia pháp lý sẽ giúp đánh giá đúng rủi ro và hướng xử lý phù hợp. NPLaw có thể hỗ trợ rà soát giao dịch, tư vấn quy định pháp luật liên quan và đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện giao dịch.
Người đại diện theo pháp luật có quyền thực hiện giao dịch bán tài sản của công ty nhưng phải trong phạm vi thẩm quyền và tuân thủ quy định của pháp luật cũng như điều lệ doanh nghiệp. Đối với các giao dịch có giá trị lớn, việc bán tài sản thường cần sự chấp thuận của cơ quan quản lý nội bộ như Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị hoặc chủ sở hữu công ty. Nếu thực hiện vượt thẩm quyền hoặc thiếu minh bạch, giao dịch có thể bị xem xét lại và người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, việc tuân thủ đúng quy định và kiểm soát nội bộ là yếu tố quan trọng để hạn chế rủi ro khi thực hiện giao dịch.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.