Một trong những câu hỏi phổ biến nhất là liệu chủ đầu tư có thể chấm dứt hợp đồng ngay khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng hay không. Bài viết này của NPLaw sẽ phân tích rõ điều kiện pháp lý, giới hạn quyền đơn phương chấm dứt và những sai lầm thường gặp cần tránh.
I. Sự ảnh hưởng của nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng
Trong thực tiễn hoạt động xây dựng và đấu thầu, việc nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng không chỉ là vấn đề nội bộ mà còn kéo theo hàng loạt hệ quả pháp lý nghiêm trọng đối với chủ đầu tư, tiến độ dự án và cả hệ thống quản lý đấu thầu.
Trước hết, tình trạng này thường dẫn đến gián đoạn tiến độ thi công, làm phát sinh chi phí bổ sung. Ngoài ra, chủ đầu tư có thể phải đối mặt với rủi ro pháp lý nếu xử lý không đúng quy trình, ví dụ như đơn phương chấm dứt hợp đồng trái quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015. Không chỉ dừng lại ở quan hệ hợp đồng, việc nhà thầu mất năng lực còn có thể dẫn đến tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến việc giải ngân vốn đầu tư công hoặc vốn doanh nghiệp.

Nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng là một rủi ro pháp lý tổng hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ, tài chính và trách nhiệm pháp lý của các bên.
II. Tìm hiểu về nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng
Để xử lý đúng, trước tiên cần hiểu rõ bản chất pháp lý của tình huống này dưới nhiều góc độ.
1. Làm sao để nhận diện dấu hiệu pháp lý cho thấy nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Việc nhận diện nhà thầu không còn năng lực dựa trên các dấu hiệu pháp lý về tình trạng doanh nghiệp (phá sản, giải thể), khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và việc duy trì các điều kiện kỹ thuật, tài chính đã cam kết trong hồ sơ dự thầu. Dưới đây là các dấu hiệu pháp lý cụ thể để nhận diện nhà thầu mất năng lực:
- Doanh nghiệp rơi vào tình trạng "đã giải thể, phá sản, chấm dứt tồn tại" trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (theo Điều 35 Nghị định 168/2025/NĐ-CP).
- Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (không thực hiện được nghĩa vụ nợ trong thời gian 30 ngày kể từ ngày đến hạn) hoặc đã có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án (theo Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025 và Điều 8 Thông tư 57/2025/TT-NHNN).
- Nhà thầu không còn đáp ứng các điều kiện về năng lực kỹ thuật, tài chính như đã yêu cầu trong hồ sơ mời thầu (ví dụ: mất chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng, không còn đủ vốn chủ sở hữu tối thiểu) (theo Điều 59 Nghị định 115/2024/NĐ-CP).
- Nhà thầu vi phạm hợp đồng, chậm tiến độ nghiêm trọng và không có khả năng khắc phục, làm ảnh hưởng đến hiệu quả gói thầu (theo Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP).
Khi phát hiện các dấu hiệu trên, chủ đầu tư cần thực hiện xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản hoặc kiểm tra tình trạng pháp lý của nhà thầu thông qua Quản tài viên hoặc Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định tại Điều 7 Nghị định 64/2026/NĐ-CP để có cơ sở chấm dứt hợp đồng đúng luật.
2. "Mất khả năng thực hiện nghĩa vụ" có tương đồng với việc nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Mất khả năng thực hiện nghĩa vụ và việc nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng có những nét tương đồng với nhau. Cả hai trạng thái này đều là căn cứ pháp lý để chủ đầu tư đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không bị coi là vi phạm theo điểm a khoản 1 Điều 85 Luật xây dựng 2025. Cả hai đều được xếp vào nhóm vi phạm cơ bản. Đây là sự vi phạm khiến mục đích của việc giao kết hợp đồng không đạt được (công trình không thể hoàn thành).

Tóm lại, hai khái niệm này có sự tương đồng cốt lõi là đều dẫn đến gián đoạn việc thực hiện hợp đồng, khi nhà thầu không còn đủ điều kiện (về tài chính, pháp lý hoặc nguồn lực) để hoàn thành cam kết. Về mặt pháp lý, cả hai đều được coi là căn cứ quan trọng để bên bị vi phạm bảo vệ quyền lợi thông qua việc dừng thanh toán hoặc chấm dứt hợp đồng.
3. "Năng lực" ở đây bao gồm những yếu tố nào khi xét đến việc nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
"Năng lực" ở đây bao gồm những yếu tố sau khi xét đến việc nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng:
- Năng lực pháp lý: Đây là điều kiện tiên quyết để nhà thầu tồn tại và hoạt động hợp pháp.
- Năng lực tài chính: Nhà thầu được xác định là không còn năng lực tài chính khi rơi vào các trường hợp mất khả năng thanh toán, không duy trì bảo đảm thực hiện hợp đồng, số liệu tài chính sai lệch.
- Năng lực kỹ thuật và nhân sự: Yếu tố này tập trung vào nguồn lực trực tiếp thực hiện gói thầu.
- Kinh nghiệm và uy tín thực hiện: Năng lực này được đánh giá thông qua quá trình triển khai thực tế.
Như vậy, năng lực của nhà thầu khi xét đến việc không còn khả năng thực hiện hợp đồng bao gồm bốn yếu tố cốt lõi: Năng lực pháp lý (giấy phép, chứng chỉ), năng lực tài chính (khả năng thanh toán, vốn), năng lực kỹ thuật (nhân sự, thiết bị) và kinh nghiệm thực hiện.
4. Vai trò của các bên liên đới (như công ty mẹ) khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng là gì?
Các bên liên đới (như công ty mẹ) khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng có vai trò và trách nhiệm sau:
- Vai trò của các bên liên đới (như công ty mẹ) khi nhà thầu (công ty con) mất năng lực phụ thuộc vào việc có cam kết bảo lãnh hay không. Thông thường, công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, trừ trường hợp có cam kết bảo lãnh tài chính, tham gia với tư cách liên danh, hoặc có hành vi can thiệp trái pháp luật dẫn đến thiệt hại của công ty con.
- Trách nhiệm khi có cam kết hỗ trợ tài chính hoặc bảo lãnh: Trong nhiều gói thầu, để chứng minh năng lực, nhà thầu thường nộp cam kết hỗ trợ tài chính từ công ty mẹ. Khi đó, công ty mẹ có vai trò là bên bảo lãnh (công ty mẹ phải thực hiện đúng cam kết hỗ trợ để duy trì hợp đồng).
- Trách nhiệm liên đới trong mô hình Liên danh: Nếu thành viên liên danh cùng tham gia gói thầu dưới hình thức liên danh, vai trò liên đới là bắt buộc:
+ Thực hiện phần việc thay thế: Khi một thành viên liên danh (công ty con) vi phạm hợp đồng hoặc mất năng lực, các thành viên còn lại (công ty mẹ) có trách nhiệm thực hiện phần công việc đó nếu đủ năng lực theo Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP.
+ Chịu phạt chung: Trường hợp phần công việc còn lại không thể thực hiện được và phải tách thành gói thầu riêng, tất cả các thành viên trong liên danh (bao gồm cả công ty mẹ) đều bị tịch thu giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng theo Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP.
- Trách nhiệm bồi thường khi can thiệp trái pháp luật: Công ty mẹ có vai trò quản lý nhưng không được lạm dụng quyền hạn gây thiệt hại cho công ty con và chủ đầu tư:
+ Bồi thường thiệt hại: Nếu công ty mẹ buộc công ty con thực hiện các hoạt động kinh doanh trái với lợi ích của công ty con dẫn đến mất năng lực thực hiện hợp đồng, công ty mẹ phải liên đới bồi thường thiệt hại theo Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi 2025.
+ Hoàn trả lợi ích: Trường hợp hành vi can thiệp đem lại lợi ích cho một công ty con khác, công ty con được hưởng lợi đó cũng phải liên đới cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi cho công ty con bị thiệt hại theo Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi 2025.
Tóm lại, nếu là chủ đầu tư, cần kiểm tra kỹ Thỏa thuận liên danh hoặc Văn bản cam kết bảo lãnh tài chính của công ty mẹ trong hồ sơ dự thầu để xác định chính xác phạm vi trách nhiệm liên đới khi nhà thầu chính gặp sự cố.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng
Việc xử lý tình huống này dựa trên nhiều hệ thống pháp luật và các quy định liên quan.
1. Theo Luật Đấu thầu, chủ đầu tư có quyền đơn phương chấm dứt ngay khi có bằng chứng nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng không?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 88 được hướng dẫn bởi được hướng dẫn bởi Khoản 13 Điều 1 Nghị định 225/2025/NĐ-CP. Theo đó, Trường hợp nhà thầu thực hiện gói thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng, hiệu quả của gói thầu thì chủ đầu tư xem xét, báo cáo người có thẩm quyền quyết định cho phép chấm dứt hợp đồng với nhà thầu đó; nhà thầu vi phạm hợp đồng bị coi là không hoàn thành hợp đồng.

Như vậy, chủ đầu tư có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi có bằng chứng nhà thầu không còn năng lực thực hiện. Tuy nhiên, việc này không được thực hiện một cách tùy tiện mà phải thông qua một quyết định bằng văn bản và tuân thủ trình tự xử lý tình huống trong đấu thầu để đảm bảo tính pháp lý.
2. Cơ sở pháp lý nào để xác định mức độ bồi thường thiệt hại khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Mức bồi thường phải dựa trên thiệt hại thực tế có chứng minh và thỏa thuận hợp đồng. cụ thể:
- Bồi thường theo thiệt hại thực tế
Theo nguyên tắc tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015, bồi thường thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản như trước khi vi phạm. Đối với hợp đồng xây dựng, Điều 86 Luật Xây dựng 2025 quy định mức bồi thường bao gồm:
+ Chi phí phát sinh: Các chi phí tổ chức lựa chọn nhà thầu thay thế, chi phí thuê tư vấn giám sát kéo dài và các tổn thất trực tiếp khác do việc gián đoạn thi công gây ra.
- Phạt vi phạm hợp đồng
Bên cạnh việc bồi thường thiệt hại, chủ đầu tư có quyền áp dụng mức phạt vi phạm nếu có thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên, mức phạt này bị giới hạn đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước:
+ Dự án đầu tư công, dự án PPP: Mức phạt không được vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm theo Điều 86 Luật Xây dựng 2025.
+ Dự án khác: Mức phạt do các bên tự thỏa thuận nhưng thường không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm theo quy định của Điều 302 Luật Thương mại 2005.
Theo đó, mức bồi thường thiệt hại khi nhà thầu không còn năng lực thực hiện hợp đồng được xác định dựa trên ba căn cứ chính: giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng bị tịch thu, thiệt hại thực tế phát sinh (chi phí chênh lệch thuê nhà thầu mới, chi phí chậm tiến độ) và mức phạt vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng
3. Hướng dẫn thủ tục kiểm kê và bàn giao hiện trạng công trình khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng
Thủ tục kiểm kê và bàn giao hiện trạng khi nhà thầu mất năng lực bao gồm 05 bước chính:
- Thông báo dừng thi công và bảo vệ hiện trường
Ngay khi có căn cứ xác định nhà thầu không còn năng lực (như bỏ dở công trình, mất khả năng thanh toán), chủ đầu tư phải ban hành văn bản thông báo dừng thi công và chấm dứt hợp đồng theo khoản 23 Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP. Đồng thời, chủ đầu tư cần tổ chức lực lượng bảo vệ hiện trường để tránh thất thoát tài sản, vật tư và thiết bị theo tinh thần tại Điều 4 Thông tư 98/2024/TT-BCA.
- Thành lập Hội đồng kiểm kê và xác định khối lượng
+ Chủ đầu tư chủ trì thành lập Hội đồng bao gồm: Đại diện chủ đầu tư, đơn vị tư vấn giám sát, đại diện nhà thầu (nếu có mặt) và đơn vị tư vấn thiết kế.
+ Khảo sát và đo đạc: Tổ chức khảo sát thực tế để xác định chính xác khối lượng công việc đã thực hiện đến thời điểm dừng thi công. Theo Điều 17 Nghị định 57/2024/NĐ-CP, công tác khảo sát đo đạc là căn cứ quan trọng để xác định giá trị quyết toán phần việc đã làm.
Nếu nhà thầu cố tình vắng mặt, chủ đầu tư vẫn tiến hành lập biên bản kiểm kê hiện trạng dưới sự chứng kiến của các bên liên quan và chính quyền địa phương (nếu cần).
- Kiểm kê vật tư, thiết bị và hồ sơ tài liệu
Hội đồng thực hiện kiểm kê các nội dung sau:
+ Vật tư tại kho bãi: Số lượng nguyên vật liệu nhà thầu đã đưa về công trường nhưng chưa lắp đặt.
+ Máy móc thiết bị: Danh mục thiết bị của nhà thầu đang lưu giữ tại hiện trường.
+ Hồ sơ hoàn công: Thu hồi toàn bộ nhật ký thi công, bản vẽ hoàn công các phần việc đã nghiệm thu và các chứng chỉ xuất xưởng của vật tư đã sử dụng. Theo Điều 16 Quyết định 550/QĐ-BXD, đơn vị phải lập đầy đủ hồ sơ làm cơ sở thanh toán, quyết toán khối lượng đã thực hiện.
- Kiểm định chất lượng và đánh giá an toàn
Trước khi bàn giao cho đơn vị mới, công trình phải được đánh giá về chất lượng để phân định trách nhiệm.
- Ký biên bản bàn giao hiện trạng chính thức
Kết quả kiểm kê phải được lập thành biên bản bàn giao thực tế tại hiện trường.
Thủ tục kiểm kê và bàn giao hiện trạng công trình khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng cần được thực hiện chặt chẽ, có biên bản và chữ ký các bên để tránh tranh chấp.
4. Thời hiệu để chủ đầu tư khởi kiện đòi nợ đối với nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng là bao lâu?
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, đối với các tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tiền tạm ứng hoặc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, thời hiệu phổ biến nhất là 3 năm. Nếu hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu được xác định là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi (tranh chấp thương mại), thời hiệu khởi kiện là 2 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo Điều 319 Luật Thương mại 2005.
Do có sự khác biệt này, chủ đầu tư nên ưu tiên thực hiện thủ tục khởi kiện trong vòng 2 năm để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý.
5. Luật quy định thế nào về nghĩa vụ hoàn trả tạm ứng của nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Theo điểm đ khoản 5 Điều 18 Nghị định 37/2015/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 9 Nghị định 35/2023/NĐ-CP tiền tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán, mức thu hồi của từng lần do hai bên thống nhất ghi trong hợp đồng nhưng phải bảo đảm tiền tạm ứng được thu hồi hết khi giá trị thanh toán đạt 80% giá hợp đồng đã ký kết. Căn cứ vào đó, sau khi trừ đi giá trị công việc đã hoàn thành, bên nhận thầu phải hoàn trả phần tạm ứng còn lại để hoàn tất thủ tục thanh lý hợp đồng. Nếu nhà thầu không hoàn trả tiền tạm ứng, chủ đầu tư sẽ yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Chủ đầu tư phải theo dõi thời hạn bảo lãnh tạm ứng. Việc không hoàn trả tạm ứng đúng quy định có thể dẫn đến việc nhà thầu bị đăng tải thông tin vi phạm trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và bị cấm tham gia các hoạt động đấu thầu trong tương lai.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng
Trong thực tiễn, nhiều tình huống phát sinh cần xử lý linh hoạt nhưng vẫn phải đúng luật.
1. Nếu nhà thầu bị phá sản, phải làm gì để thu hồi tiền khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Nếu nhà thầu bị phá sản,để thu hồi tiền khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng cần làm như sau:
- Thu hồi qua hệ thống bảo lãnh ngân hàng: Đây là cách nhanh nhất vì tiền được ngân hàng chi trả, không phụ thuộc vào tài sản còn lại của nhà thầu.
+ Bảo lãnh tạm ứng: Yêu cầu ngân hàng hoàn trả số tiền tạm ứng chưa thu hồi theo Điều 9 Nghị định 254/2025/NĐ-CP.
- Gửi giấy đòi nợ để tham gia phân chia tài sản phá sản: Nếu số tiền bảo lãnh không đủ bù đắp thiệt hại, chủ đầu tư phải tham gia vào quy trình phá sản với tư cách là chủ nợ. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, chủ đầu tư phải gửi giấy đòi nợ kèm tài liệu chứng minh (hợp đồng, biên bản xác nhận nợ, chứng từ tạm ứng) cho Quản tài viên theo Điều 55 Luật Phục hồi, phá sản 2025. Nếu quá thời hạn này mà không gửi giấy đòi nợ, chủ đầu tư sẽ mất quyền tham gia thủ tục phá sản và không được phân chia tài sản, trừ trường hợp bất khả kháng theo Điều 55 Luật Phục hồi, phá sản 2025.
- Thu hồi tài sản trực tiếp tại hiện trường: Chủ đầu tư có quyền thu hồi các tài sản không thuộc về nhà thầu nhưng đang ở công trường:
+ Vật tư đã thanh toán: Các vật tư, thiết bị chủ đầu tư đã nghiệm thu thanh toán nhưng chưa lắp đặt thuộc sở hữu của chủ đầu tư.
+ Tài sản cho mượn: Máy móc, thiết bị chủ đầu tư cho nhà thầu mượn để thi công phải được thu hồi ngay theo biên bản kiểm kê hiện trạng theo Điều 38 Nghị định 186/2025/NĐ-CP.
Chủ đầu tư cần thường xuyên kiểm tra trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp để biết tình trạng "Đang làm thủ tục phá sản" của nhà thầu nhằm kịp thời thực hiện các quyền nêu trên theo Điều 35 Nghị định 168/2025/NĐ-CP.
2. Có được giữ lại máy móc thiết bị của họ tại công trường khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Khi nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng bạn được giữ lại máy móc thiết bị của họ tại công trường. Theo quy định Điều 346 Bộ luật Dân sự 2015, bên có quyền đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được phép lưu giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn. Do đó, nếu nhà thầu đang nợ bạn (ví dụ: nợ tiền tạm ứng chưa hoàn trả, nợ tiền bồi thường thiệt hại), bạn có quyền chiếm giữ máy móc của họ cho đến khi nghĩa vụ được thực hiện.
Như vậy, bạn có quyền lưu giữ máy móc, thiết bị của nhà thầu tại công trường để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán hoặc để tiếp tục thi công nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Tuy nhiên, việc này phải tuân thủ đúng trình tự pháp luật để tránh bị kiện ngược về hành vi chiếm giữ tài sản trái phép.
3. Nếu nhà thầu "biến mất" không liên lạc được, cần làm thủ tục gì để tuyên bố nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Nếu nhà thầu "biến mất" không liên lạc được, cần làm thủ tục sau để tuyên bố nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng:
- Lập biên bản xác nhận hiện trạng vắng mặt
Chủ đầu tư phối hợp với đơn vị tư vấn giám sát và chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình) để lập biên bản ghi nhận việc nhà thầu tự ý dừng thi công, không có người đại diện tại công trường.
- Thực hiện thông báo công khai
Do không liên lạc được trực tiếp, chủ đầu tư phải thực hiện thông báo qua các kênh chính thức để làm căn cứ pháp lý cho việc chấm dứt hợp đồng sau này.
- Thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng
Sau khi đã gửi thông báo mà nhà thầu vẫn không phản hồi, chủ đầu tư ban hành Quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Khoản 22 Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP.
Nhà thầu cần thực hiện các bước nêu trên để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình.
4. Có thể thuê nhà thầu khác vào làm phần việc còn lại mà không cần sự đồng ý của nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng cũ?
Đối với các dự án đầu tư, theo khoản 22 Điều 140 Nghị định 214/2025/NĐ-CP trường hợp nhà thầu vi phạm hợp đồng, không còn năng lực để tiếp tục thực hiện làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ, chất lượng thì chủ đầu tư chấm dứt hợp đồng với nhà thầu đó mà không cần sự đồng thuận của bên vi phạm. Sau khi đã ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng với nhà thầu cũ, chủ đầu tư có quyền chỉ định thầu để đẩy nhanh tiến độ: Đây là cơ chế ưu tiên để cứu vãn dự án đang dở dang. Theo điểm i khoản 1 Điều 23 Luật Đấu thầu 2023 được sửa đổi bởi Khoản 14 Điều 1 Luật sửa đổi Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2025 trường hợp gói thầu cần đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả thì được áp dụng hình thức chỉ định thầu trong lựa chọn nhà thầu.
Việc thuê nhà thầu khác thường sẽ làm phát sinh chi phí cao hơn so với đơn giá trong hợp đồng cũ. Nhà thầu cũ (không còn năng lực) phải chịu trách nhiệm bồi thường phần chênh lệch giá này và các thiệt hại khác do việc chậm trễ gây ra theo Điều 86 Luật Xây dựng 2025.
5. Việc thay đổi nhân sự chủ chốt liên tục có bị coi là bằng chứng nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Theo khoản 4 Điều 45 Nghị định 214/2025/NĐ-CP, nhân sự chủ chốt là yếu tố quyết định để nhà thầu trúng thầu. Việc tự ý thay đổi hoặc thay đổi liên tục mà không có lý do chính đáng là hành vi vi phạm cam kết trong hồ sơ dự thầu. Do đó, việc thay đổi nhân sự chủ chốt liên tục được coi là một dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng và có thể được sử dụng làm bằng chứng để đánh giá nhà thầu không còn năng lực thực hiện hợp đồng. Theo quy định mới nhất, nhà thầu chỉ được thay đổi nhân sự trong những trường hợp bất khả kháng và nhân sự thay thế phải có năng lực tương đương hoặc cao hơn.
V. Bạn đang tìm công ty luật uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng?
Việc xử lý tình huống nhà thầu không còn năng lực để tiếp tục thực hiện hợp đồng đòi hỏi đánh giá pháp lý chính xác và chiến lược xử lý phù hợp, nếu không có thể dẫn đến tranh chấp lớn và thiệt hại tài chính đáng kể. Với kinh nghiệm tư vấn trong lĩnh vực đấu thầu – xây dựng, NPLaw mang đến giải pháp bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của Quý khách hàng.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.