Cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty là vấn đề pháp lý tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu không được nhận diện và tuân thủ đúng quy định.
Trong thực tiễn hoạt động doanh nghiệp, cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty là vấn đề pháp lý thường xuyên gây tranh chấp giữa cổ đông, nhà đầu tư và chính doanh nghiệp. Bài viết dưới đây sẽ phân tích toàn diện thực trạng, cơ sở pháp lý và những rủi ro thường gặp liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty, đồng thời cung cấp góc nhìn thực tiễn và giải pháp pháp lý cho cổ đông, nhà đầu tư và doanh nghiệp trong quá trình giao dịch cổ phần.
I. Thực trạng cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty xuất hiện phổ biến tại các công ty cổ phần chưa đại chúng, doanh nghiệp gia đình và công ty khởi nghiệp nhằm kiểm soát cơ cấu cổ đông và ổn định quản trị. Tuy nhiên, nhiều điều lệ công ty quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần thiếu rõ ràng hoặc vượt quá giới hạn pháp luật, dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền chuyển nhượng hợp pháp của cổ đông.

Trên thực tế, không ít giao dịch mua bán cổ phần được thực hiện mà không rà soát kỹ điều lệ, khiến người mua không được công ty ghi nhận tư cách cổ đông do cổ phần thuộc diện bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty. Bên cạnh đó, tình trạng lách luật thông qua chuyển nhượng gián tiếp, cam kết chuyển nhượng tương lai vẫn tồn tại, tiềm ẩn rủi ro tranh chấp và xử phạt. Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải thẩm định điều lệ và tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật khi giao dịch cổ phần.
II. Tìm hiểu về cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty
Việc hiểu đúng cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có ý nghĩa quyết định trong việc phòng ngừa rủi ro pháp lý khi giao dịch cổ phần.
1. Cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có nghĩa là gì?
Tại khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2022, 2025 (gọi tắt là LDN 2020 sửa đổi bổ sung 2022, 2025) quy định thì cổ phần được tự do chuyển nhượng trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật này và điều lệ công ty có quy định hạn chế chưởng nhượng cổ phần. Có thể hiểu cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có nghĩa là những cổ phần mà việc chuyển nhượng không được thực hiện tự do theo nguyên tắc chung, mà phải tuân thủ các điều kiện, trình tự hoặc sự chấp thuận nhất định được quy định trong điều lệ công ty.
Trong thực tiễn, cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty thường gắn với các hình thức như yêu cầu ưu tiên chào bán cho cổ đông hiện hữu, hạn chế chuyển nhượng trong thời gian nhất định hoặc phải được Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Nếu việc hạn chế không được quy định rõ ràng trong điều lệ hoặc không được công bố hợp lệ thì cổ đông vẫn có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình.
2. Vì sao công ty lại quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty?
Việc quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty trước hết xuất phát từ nhu cầu ổn định cơ cấu cổ đông và bảo đảm hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Trong nhiều công ty cổ phần, đặc biệt là công ty gia đình, công ty khởi nghiệp hoặc doanh nghiệp có nhóm cổ đông sáng lập nắm quyền kiểm soát, việc cho phép chuyển nhượng cổ phần hoàn toàn tự do có thể dẫn đến sự tham gia của các nhà đầu tư không phù hợp với định hướng phát triển của công ty. Trên cơ sở khoản 1 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi bổ sung 2022, 2025, pháp luật cho phép công ty quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong điều lệ nhằm kiểm soát sự thay đổi về quyền sở hữu, miễn là các hạn chế này được quy định rõ ràng và không trái luật.

Bên cạnh đó, việc áp dụng hạn chế đối với cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty còn nhằm bảo vệ lợi ích của công ty và các cổ đông hiện hữu, đặc biệt trong các giai đoạn nhạy cảm như tái cơ cấu, gọi vốn hoặc chuyển giao thế hệ quản lý. Các quy định như ưu tiên chào bán cho cổ đông hiện hữu, yêu cầu thời gian nắm giữ tối thiểu hoặc phải được cơ quan quản lý nội bộ chấp thuận giúp hạn chế tình trạng đầu cơ và giảm thiểu nguy cơ tranh chấp nội bộ.
Do đó, xét trên cả phương diện pháp lý và thực tiễn, việc công ty quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty là công cụ quản trị hợp pháp và cần thiết nếu được xây dựng và áp dụng đúng quy định pháp luật.
3. Khi mua cổ phần, làm sao biết cổ phần đó có thuộc diện cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty hay không?
Để xác định cổ phần dự định mua có thuộc cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty hay không, trước hết người mua cần kiểm tra điều lệ công ty đang có hiệu lực tại thời điểm giao dịch. Theo khoản 1 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi bổ sung 2022, 2025 quy định như sau:
- Các hạn chế đối với việc chuyển nhượng cổ phần chỉ có giá trị pháp lý khi điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Do đó, người mua cần rà soát kỹ các điều khoản liên quan đến hạn chế chuyển nhượng, bao gồm phạm vi áp dụng, thời hạn hạn chế, điều kiện chuyển nhượng và cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, nếu có.
- Bên cạnh điều lệ, người mua cổ phần nên đối chiếu thông tin trên cổ phiếu, sổ đăng ký cổ đông và các tài liệu công bố nội bộ của công ty. Pháp luật yêu cầu các hạn chế chuyển nhượng phải được thể hiện trên cổ phiếu tương ứng. Trường hợp cổ phần chưa phát hành dưới dạng chứng chỉ, thông tin hạn chế thường được ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông hoặc hồ sơ quản trị nội bộ.
4. Có loại cổ phần nào được miễn quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty không?
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, không phải mọi loại cổ phần đều có thể bị áp dụng hạn chế chuyển nhượng theo điều lệ công ty. Về nguyên tắc, cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông được tự do chuyển nhượng, trừ hai trường hợp:
- Điều lệ công ty có quy định hạn chế phù hợp khoản 1 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025.
- Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, theo khoản 3 Điều 120 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025.
Ngoài các trường hợp trên, pháp luật không mặc nhiên cho phép công ty áp đặt hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần phổ thông.
Đối với cổ phần ưu đãi, pháp luật lại có cách tiếp cận khác. Một số loại cổ phần ưu đãi, như cổ phần ưu đãi biểu quyết, bị hạn chế hoặc không được chuyển nhượng theo quy định tại khoản 3 Điều 116 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025, không phụ thuộc vào việc điều lệ công ty có quy định hay không. Ngược lại, đối với các loại cổ phần ưu đãi khác như cổ phần ưu đãi cổ tức hoặc cổ phần ưu đãi hoàn lại không có quy định cụ thể, việc chuyển nhượng về cơ bản vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.
Như vậy, có thể thấy rằng chỉ những trường hợp pháp luật quy định cụ thể hoặc điều lệ công ty hợp pháp đặt ra hạn chế thì cổ phần mới bị giới hạn chuyển nhượng.
III. Các quy định pháp luật có liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty
Việc điều lệ công ty quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng chỉ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Do đó, cần xem xét các quy định của Luật Doanh nghiệp, nghĩa vụ công bố thông tin đối với công ty đại chúng và những vi phạm phổ biến liên quan đến cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng trong thực tiễn.
1. Luật Doanh nghiệp quy định thế nào về việc công ty quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty?
Về nguyên tắc chung tại khoản 1 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 quy định cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần trừ trường hợp khoản 3 Điều 120 Luật này và điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Theo đó, trường hợp điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.
Bên cạnh đó trường hợp hạn chế đặc thù của cổ đông sáng lập theo khoản 3 Điều 120 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025. Trong 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác, trừ khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Đây là trường hợp hạn chế chuyển nhượng theo luật, không phụ thuộc vào điều lệ.
Luật Doanh nghiệp cho phép công ty quy định cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ, nhưng chỉ trong phạm vi luật định, phải minh bạch, được ghi nhận đầy đủ trong điều lệ và thể hiện rõ trên cổ phiếu. Mọi hạn chế vượt quá hoặc không tuân thủ các điều kiện này đều có nguy cơ bị coi là không có hiệu lực pháp lý.
2. Quy định pháp lý về việc công bố thông tin đối với các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty trong công ty đại chúng là gì?
Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 Luật Chứng khoán 2019 được sửa đổi bởi điểm a khoản 11 Điều 31b Luật sửa đổi Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách Nhà nước năm 2024 như sau:
- Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ;
- Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật Chứng khoán 2019.
Đối với công ty đại chúng, việc công bố thông tin về cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty được pháp luật chứng khoán yêu cầu thực hiện minh bạch và đầy đủ, cụ thể:
- Nghĩa vụ công bố thông tin chung: Theo Điều 118 Luật Chứng khoán 2019 được hướng dẫn bởi khoản 1 Điều 2 Thông tư 96/2020/TT-BTC, bổ sung bởi khoản 5 Điều 4 Thông tư 68/2024/TT-BTC, công ty đại chúng phải công bố đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Việc cổ phần bị hạn chế chuyển nhượng làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giao dịch và tính thanh khoản, nên thuộc thông tin bắt buộc công bố.
- Công bố trong hồ sơ chào bán và tài liệu pháp lý: Theo khoản 3 và khoản 5 Điều 41 Nghị định 155/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a và điểm b khoản 19 Điều 1 Nghị định 245/2025/NĐ-CP và điểm d khoản 1 Điều 11 Thông tư 96/2020/TT-BTC, các hạn chế chuyển nhượng cổ phần theo điều lệ phải được thể hiện rõ trong:
- Bản cáo bạch, hồ sơ chào bán chứng khoán ra công chúng.
- điều lệ công ty và các tài liệu công bố thông tin định kỳ (như báo cáo thường niên).
- Nội dung công bố phải làm rõ loại cổ phần bị hạn chế, đối tượng bị hạn chế, phạm vi và thời hạn hạn chế (nếu có).
- Công bố thông tin bất thường khi có thay đổi: Khi điều lệ công ty được sửa đổi liên quan đến việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần, công ty đại chúng phải thực hiện công bố thông tin bất thường.

Tóm lại, trong công ty đại chúng, các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ phải được công bố công khai, rõ ràng và kịp thời trong điều lệ, hồ sơ chào bán và các báo cáo công bố thông tin; việc không công bố hoặc công bố không đầy đủ có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin.
3. Vi phạm phổ biến nhất liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty là gì?
Trong thực tiễn, vi phạm phổ biến nhất liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty thường tập trung vào các hành vi sau:
- Quy định hạn chế chuyển nhượng trái luật trong điều lệ: Công ty đặt ra các hạn chế vượt quá phạm vi Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 cho phép (hạn chế tuyệt đối, không thời hạn, hoặc hạn chế không rõ tiêu chí), dẫn đến quy định trong điều lệ không có hiệu lực pháp lý.
- Không ghi nhận hạn chế chuyển nhượng trên cổ phiếu: Theo quy định tại khoản 1 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 hạn chế chuyển nhượng theo điều lệ chỉ có hiệu lực khi được quy định rõ trong điều lệ và được ghi rõ trên cổ phiếu. Nhiều doanh nghiệp chỉ quy định trong điều lệ nhưng không thể hiện trên cổ phiếu, làm phát sinh tranh chấp khi chuyển nhượng.
- Không hoặc công bố thông tin không đầy đủ (đối với công ty đại chúng): Công ty đại chúng không công bố, hoặc công bố không rõ ràng về loại cổ phần bị hạn chế, phạm vi và thời hạn hạn chế trong bản cáo bạch, báo cáo thường niên hoặc khi sửa đổi điều lệ, vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.
- Áp dụng hạn chế không thống nhất giữa các cổ đông: Việc áp dụng hạn chế chuyển nhượng một cách tùy tiện, không bình đẳng giữa các cổ đông cùng loại cổ phần có thể bị coi là vi phạm nguyên tắc đối xử bình đẳng trong công ty cổ phần.
Vi phạm phổ biến nhất là việc đặt ra hoặc áp dụng hạn chế chuyển nhượng cổ phần không đúng quy định pháp luật, đặc biệt là không ghi nhận đầy đủ trong cổ phiếu và không công bố thông tin minh bạch, dẫn đến rủi ro pháp lý và tranh chấp giữa công ty và cổ đông.
IV. Các thắc mắc thường gặp liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty
Trong quá trình áp dụng các quy định về cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty, thực tiễn phát sinh nhiều tình huống phức tạp liên quan đến hiệu lực giao dịch, trách nhiệm pháp lý của các bên và nghĩa vụ thuế. Phần này tập trung giải đáp những thắc mắc thường gặp nhằm giúp cổ đông và doanh nghiệp nhận diện rủi ro, xử lý đúng quy định và hạn chế tranh chấp phát sinh.
1. Trường hợp cổ đông tự ý ký cam kết chuyển nhượng tương lai đối với cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty sẽ có rủi ro pháp lý gì?
Trường hợp cổ đông tự ý ký cam kết chuyển nhượng trong tương lai đối với cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có thể phát sinh các rủi ro pháp lý, kèm theo cơ sở pháp lý cụ thể như sau:
- Nguy cơ cam kết chuyển nhượng bị vô hiệu: Khoản 1 và khoản 2 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 quy định cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định hạn chế, và các hạn chế này chỉ có hiệu lực khi được ghi rõ trên cổ phiếu. Khi cổ phần đang bị hạn chế hợp pháp, việc cổ đông cam kết chuyển nhượng trong thời gian hạn chế có thể bị coi là trái với điều lệ công ty. Theo Điều 123 BLDS 2015, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Trong trường hợp điều lệ đặt ra hạn chế hợp pháp, cam kết chuyển nhượng có nguy cơ bị tuyên vô hiệu.
- Giao dịch không được công ty ghi nhận: Tại Khoản 6 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 (về thời điểm có hiệu lực của việc chuyển nhượng cổ phần) quy định người nhận chuyển nhượng chỉ trở thành cổ đông khi thông tin được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Công ty có quyền từ chối cập nhật sổ cổ đông nếu việc chuyển nhượng không đáp ứng điều kiện theo điều lệ.
- Phát sinh trách nhiệm dân sự giữa các bên: Theo Điều 351 và Điều 360 BLDS 2015, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu trách nhiệm dân sự khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Nếu cam kết chuyển nhượng không thực hiện được do vi phạm hạn chế chuyển nhượng, cổ đông ký cam kết có thể phải bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền đặt cọc, chịu phạt vi phạm (Điều 418 BLDS 2015 nếu có thỏa thuận).
- Xử phạt hành chính: Việc chuyển nhượng không đúng quy định, che giấu thông tin hoặc không công bố thông tin đầy đủ có thể bị phạt tiền, buộc hủy giao dịch hoặc khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 42 Nghị định 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 16 Điều 1 Nghị định 306/2025/NĐ-CP, Điều 16 Nghị định 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 15 Điều 1 Nghị định 128/2021/NĐ-CP.
- Xử lý hình sự: Khi có hành vi cố ý che dấu thông tin gây hậu quả nghiêm trọng đây là dấu hiệu của Tội che dấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (đối với công ty đại chúng) Điều 209 Bộ luật Hình sự 2015. Việc cố tình lách luật nhằm mục đích trốn thuế khi chuyển nhượng cổ phần là dấu hiệu của Tội trốn thuế Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015.
Cổ đông tự ý ký cam kết chuyển nhượng tương lai đối với cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty tiềm ẩn rủi ro cao về hiệu lực pháp lý của cam kết, khả năng được công ty ghi nhận và trách nhiệm bồi thường, đồng thời có thể bị đánh giá là hành vi lách luật nếu không được thực hiện đúng điều kiện pháp luật và điều lệ cho phép.
2. Việc cố tình lách luật bằng cách chuyển nhượng "tay ngang" các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty bị xử lý như thế nào?
Việc cố tình lách luật bằng cách chuyển nhượng “tay ngang” (chuyển nhượng ngầm, không thông qua thủ tục hợp pháp) đối với cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có thể bị xử lý với nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng, trên các phương diện sau:
- Giao dịch chuyển nhượng có nguy cơ bị vô hiệu: Như đã nêu trên chuyển nhượng “tay ngang” nhằm né tránh hạn chế trong điều lệ có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
- Không được công nhận tư cách cổ đông: Theo quy định người nhận chuyển nhượng chỉ trở thành cổ đông khi được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Công ty có quyền từ chối ghi nhận giao dịch “tay ngang”, dẫn đến việc bên mua không có quyền cổ đông dù đã thanh toán tiền.
- Phát sinh trách nhiệm dân sự giữa các bên: Theo Điều 351 và Điều 360 BLDS 2015, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, hoàn trả tiền, phạt vi phạm theo Điều 418 BLDS 2015 nếu có.
- Nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính: Hành vi thực hiện chuyển nhượng không đúng quy định, che giấu thông tin hoặc không công bố thông tin đầy đủ có thể bị phạt tiền, buộc hủy giao dịch hoặc khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 42 Nghị định 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 16 Điều 1 Nghị định 306/2025/NĐ-CP, Điều 16 Nghị định 156/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm a khoản 15 Điều 1 Nghị định 128/2021/NĐ-CP.
- Có thể bị xử lý hình sự: Nếu có dấu hiệu của Tội che dấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (đối với công ty đại chúng) Điều 209 Bộ luật Hình sự 2015. Việc cố tình lách luật bằng cách chuyển nhượng “tay ngang” các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng nhằm mục đích trốn thuế là dấu hiệu của Tội trốn thuế Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015.
Hành vi cố tình chuyển nhượng “tay ngang” các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty không chỉ làm giao dịch có nguy cơ vô hiệu và không được công nhận, mà còn có thể kéo theo trách nhiệm dân sự, xử phạt hành chính.
3. Người mua không biết cổ phần mình mua thuộc cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty và gặp rắc rối, quyền khởi kiện như thế nào?
Trường hợp người mua không biết (không thể biết một cách hợp lý) rằng cổ phần mình mua thuộc cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty và sau đó phát sinh tranh chấp, pháp luật cho phép người mua thực hiện quyền khởi kiện theo các hướng sau:
- Người mua có thể khởi kiện bên bán tại Tòa án có thẩm quyền khi: Giao dịch chuyển nhượng không được công ty ghi nhận do vi phạm hạn chế chuyển nhượng hay bên bán không thông tin hoặc cố ý che giấu việc cổ phần bị hạn chế.
- Khởi kiện yêu cầu công nhận giao dịch (trong trường hợp hạn chế không hợp pháp): Nếu hạn chế chuyển nhượng không được ghi rõ trên cổ phiếu hoặc quy định trong điều lệ trái Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025 người mua có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực giao dịch.
- Khởi kiện công ty (trong trường hợp công ty có lỗi): Người mua có thể khởi kiện công ty nếu chứng minh được công ty không công bố, công bố không đầy đủ hạn chế chuyển nhượng (đặc biệt với công ty đại chúng). Hay trường hợp công ty cấp, lưu hành cổ phiếu không thể hiện hạn chế chuyển nhượng.
Khi người mua không biết cổ phần thuộc diện bị hạn chế chuyển nhượng và gặp rủi ro, họ có quyền khởi kiện bên bán, khởi kiện công ty hoặc yêu cầu Tòa án công nhận/giao dịch vô hiệu, tùy từng trường hợp cụ thể.
4. Việc không thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông sau khi chuyển nhượng hợp pháp các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty gây rủi ro gì?
Việc không thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông sau khi đã chuyển nhượng hợp pháp các cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty có thể dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý đáng kể, cụ thể:
- Không được công nhận tư cách cổ đông hợp pháp: Theo khoản 6 Điều 127 LDN 2020 sửa đổi, bổ sung 2022, 2025, người nhận chuyển nhượng chỉ trở thành cổ đông kể từ thời điểm thông tin của họ được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Nếu không hoàn tất thủ tục đăng ký, bên mua không có quyền cổ đông, không được tham dự, biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, không được nhận cổ tức và các quyền khác.
- Rủi ro tranh chấp với bên chuyển nhượng: Do cổ đông cũ vẫn đứng tên trong sổ đăng ký cổ đông, họ có thể thực hiện quyền cổ đông, thực hiện chuyển nhượng tiếp cho người khác, gây tranh chấp quyền sở hữu cổ phần. Trong trường hợp tranh chấp, bên mua gặp bất lợi về chứng cứ do chưa được ghi nhận hợp pháp.
- Không được pháp luật bảo vệ đầy đủ khi phát sinh tranh chấp: Việc không đăng ký thay đổi cổ đông khiến bên mua khó chứng minh quyền sở hữu hợp pháp, đặc biệt khi công ty hoặc bên thứ ba có liên quan.
Việc không đăng ký thay đổi cổ đông sau khi chuyển nhượng hợp pháp cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ không làm giao dịch đương nhiên vô hiệu, nhưng dẫn đến rủi ro lớn ảnh hưởng đến nhiều bên.
5. Nghĩa vụ kê khai thuế phát sinh khi thực hiện giao dịch cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty được xử lý ra sao?
Sau khi thực hiện giao dịch cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty phải có nghĩa vụ kê khai thuế phát sinh theo đúng quy định của pháp luật.
- Thuế thu nhập cá nhân (đối với cá nhân chuyển nhượng cổ phần): Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng cổ phần phải kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán. Theo Khoản 4 Điều 2 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán là thu nhập chịu thuế.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (đối với tổ chức chuyển nhượng cổ phần): Tổ chức chuyển nhượng cổ phần phải kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 thu nhập từ chuyển nhượng vốn là thu nhập chịu thuế.
Dù cổ phần thuộc diện bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ, khi giao dịch đã được thực hiện hợp pháp, bên chuyển nhượng vẫn phải kê khai và nộp thuế theo quy định.
V. Bạn đang tìm một chuyên gia pháp lý uy tín để hỗ trợ vấn đề liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty?
Việc tham vấn NPLaw đơn vị có kinh nghiệm trong lĩnh vực doanh nghiệp và chứng khoán sẽ giúp bạn đánh giá đúng hiệu lực giao dịch, nhận diện rủi ro và lựa chọn phương án xử lý phù hợp. Sự hỗ trợ chuyên sâu còn giúp hạn chế tranh chấp cổ đông và bảo đảm tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ pháp lý, thuế. Đây là bước cần thiết để bảo vệ an toàn quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.
Có thể thấy, các rủi ro pháp lý liên quan đến cổ phần bị giới hạn chuyển nhượng theo điều lệ công ty chủ yếu phát sinh từ việc điều lệ quy định không đúng luật, thiếu minh bạch thông tin và giao dịch không tuân thủ trình tự pháp lý. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, cổ đông và nhà đầu tư cần thẩm định kỹ điều lệ, hồ sơ cổ phần và nghĩa vụ pháp lý phát sinh trước khi giao dịch. Trong những trường hợp phức tạp, việc tham vấn ý kiến luật sư chuyên môn từ các đơn vị tư vấn như NPLaw là giải pháp cần thiết nhằm phòng ngừa tranh chấp và xử lý hiệu quả các rủi ro pháp lý.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.