Bài viết phân cung cấp các quy định liên quan đến sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài, giúp doanh nghiệp chủ động phòng ngừa và xử lý hiệu quả các tình huống phát sinh.
Sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài, không ít doanh nghiệp phát sinh vấn đề này trong quá trình hoạt động dẫn đến nhiều hệ quả pháp lý và tranh chấp nội bộ. Việc hiểu đúng quy định, nhận diện rủi ro và có hướng xử lý phù hợp là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo tính ổn định và tuân thủ pháp luật. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp góc nhìn tổng quan và những thông tin cần thiết xoay quanh vấn đề này.
I. Thực trạng liên quan đến sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
Thực tế cho thấy tình trạng sáng lập viên tự ý chuyển nhượng cổ phần ra bên ngoài mà không tuân thủ quy định pháp luật hoặc điều lệ công ty đang có xu hướng gia tăng. Hành vi này thường diễn ra âm thầm, không công khai, gây khó khăn cho việc kiểm soát và quản lý nội bộ doanh nghiệp.
Nhiều trường hợp việc “bán chui” xuất phát từ nhu cầu rút vốn nhanh hoặc mâu thuẫn giữa các cổ đông sáng lập. Tuy nhiên, việc không tuân thủ trình tự, thủ tục hợp pháp đã dẫn đến hàng loạt tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu cổ phần và tư cách cổ đông trong công ty.

Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp chỉ phát hiện sự việc khi đã phát sinh hậu quả như thay đổi cơ cấu cổ đông hoặc tranh chấp quyền quản lý. Điều này cho thấy việc kiểm soát giao dịch cổ phần và nâng cao nhận thức pháp lý của các sáng lập viên vẫn còn nhiều hạn chế trong thực tiễn.
II. Khái niệm về sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
Cần làm rõ khái niệm, dấu hiệu nhận biết và phân biệt hành vi này với các trường hợp vi phạm tương tự. Đây là cơ sở để đánh giá đúng tính hợp pháp của giao dịch và hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp.
1. Sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài là gì?
Sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài là việc cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác mà không tuân thủ các điều kiện bắt buộc theo quy định pháp luật hoặc điều lệ công ty, đặc biệt trong thời hạn bị hạn chế chuyển nhượng. Hành vi này thường gắn với việc không được chấp thuận hợp lệ, không thực hiện đúng thủ tục hoặc cố tình che giấu giao dịch.
Đây là một dạng chuyển nhượng cổ phần không hợp pháp và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý cho cả doanh nghiệp và các bên liên quan.
2. Những dấu hiệu nào để xác định một giao dịch chuyển nhượng cổ phần là “bán chui”?
Một giao dịch chuyển nhượng cổ phần có thể bị xem là “bán chui” khi không đáp ứng các điều kiện bắt buộc theo quy định pháp luật hoặc điều lệ công ty. Cụ thể, giao dịch thường không được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trong trường hợp pháp luật yêu cầu, không tuân thủ thời hạn hạn chế chuyển nhượng của cổ đông sáng lập hoặc không thực hiện thủ tục ghi nhận thay đổi cổ đông theo quy định.
Chẳng hạn đối với công ty cổ phần có quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 thì trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, dấu hiệu “bán chui” còn thể hiện ở việc các bên cố tình che giấu giao dịch như thông qua hợp đồng ủy quyền, nhờ người khác đứng tên hoặc không công khai thông tin chuyển nhượng.
Giao dịch thiếu minh bạch, vi phạm điều kiện chuyển nhượng hoặc không được ghi nhận hợp lệ trong hồ sơ công ty thì có cơ sở xác định là “bán chui” cổ phần.
3. Hành vi bán chui cổ phần khác gì với chuyển nhượng cổ phần trái điều lệ?
Hành vi “bán chui” cổ phần và chuyển nhượng cổ phần trái điều lệ đều là các dạng vi phạm, nhưng khác nhau về bản chất và mức độ vi phạm.
- “Bán chui” cổ phần là việc cổ đông (đặc biệt là cổ đông sáng lập) chuyển nhượng cổ phần vi phạm quy định bắt buộc của pháp luật, như không được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trong thời hạn hạn chế theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025. Hoặc cố tình che giấu, không đăng ký thay đổi cổ đông theo Điều 122 Luật này. Đây là hành vi vi phạm cả về nội dung lẫn thủ tục và thường bị coi là không hợp pháp.
- Trong khi đó, chuyển nhượng cổ phần trái điều lệ là trường hợp giao dịch không tuân thủ quy định nội bộ của công ty (ví dụ: không ưu tiên chào bán cho cổ đông hiện hữu, không tuân thủ quy trình nội bộ), nhưng không nhất thiết vi phạm điều cấm của luật. Tùy trường hợp, giao dịch vẫn có thể được công nhận nếu không trái quy định pháp luật bắt buộc.

Vì vậy “bán chui” cổ phần là vi phạm pháp luật mang tính nghiêm trọng hơn, còn chuyển nhượng trái điều lệ chủ yếu là vi phạm nội bộ. Ttuy nhiên, cả hai đều tiềm ẩn rủi ro tranh chấp và cần được xử lý thận trọng.
III. Quy định của pháp luật liên quan đến sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
Công ty và các cổ đông cần nắm rõ quy định pháp luật liên quan đến việc sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
1. Điều kiện để việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập có hiệu lực
Việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật quy định và điều lệ công ty.
- Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập chỉ được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác. Nếu cổ đông sáng lập muốn chuyển nhượng cổ phần cho người ngoài thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận.
- Tại khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 quy định việc chuyển nhượng phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục và không vi phạm các hạn chế theo điều lệ công ty. Đồng thời, giao dịch chỉ được công nhận đầy đủ khi thông tin cổ đông mới được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông theo Điều 122 Luật này.
Chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực khi tuân thủ đúng điều kiện hạn chế chuyển nhượng, được chấp thuận hợp lệ (nếu cần) và hoàn tất thủ tục ghi nhận theo quy định pháp luật.
2. Hành vi bán chui cổ phần có thể bị xử phạt vi phạm hành chính không?
Hành vi “bán chui” cổ phần có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không phải bị phạt trực tiếp vì việc “bán chui”, mà do các nghĩa vụ pháp lý liên quan bị vi phạm trong quá trình chuyển nhượng. Khi phát sinh giao dịch chuyển nhượng cổ phần, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo, đăng ký thay đổi thông tin cổ đông sáng lập và cập nhật sổ đăng ký cổ đông. Nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, sẽ bị xử phạt theo Điều 49 Nghị định 122/2021/NĐ-CP.
“Bán chui” cổ phần vẫn có thể bị xử phạt hành chính, nhưng chế tài áp dụng là đối với các vi phạm về nghĩa vụ đăng ký, thông báo và quản lý thông tin cổ đông phát sinh từ hành vi này, chứ không có một quy định riêng xử phạt trực tiếp hành vi “bán chui”. Khi thực hiện hành vi bán chui cổ phần thì giao dịch bán cổ phần sẽ không có hiệu lực
3. Trách nhiệm pháp lý của sáng lập viên khi bán chui cổ phần
Sáng lập viên khi “bán chui” cổ phần có thể phải chịu nhiều loại trách nhiệm pháp lý khác nhau, tùy theo tính chất và hậu quả của hành vi.
- Về trách nhiệm dân sự: Nếu việc chuyển nhượng vi phạm khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 (không được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trong thời hạn hạn chế) và gây thiệt hại cho công ty hoặc cổ đông khác, thì người vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015. Đồng thời, giao dịch có thể không được công nhận, dẫn đến việc bên nhận không có tư cách cổ đông.
- Về trách nhiệm hành chính: Nếu phát sinh vi phạm nghĩa vụ liên quan như không thông báo hoặc không đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập, không cập nhật sổ đăng ký cổ đông, thì có thể bị xử phạt theo Điều 49 Nghị định 122/2021/NĐ-CP.
- Về trách nhiệm nội bộ doanh nghiệp: sáng lập viên vi phạm có thể bị công ty hoặc các cổ đông khác yêu cầu hủy giao dịch, không công nhận tư cách cổ đông của bên nhận, hoặc áp dụng các chế tài theo điều lệ công ty.
Sáng lập viên “bán chui” cổ phần không chỉ đối mặt với rủi ro giao dịch vô hiệu mà còn có thể bị xử phạt hành chính và phải bồi thường thiệt hại nếu gây ảnh hưởng đến công ty hoặc cổ đông khác.
4. Cổ đông sáng lập vi phạm quy định về chuyển nhượng cổ phần có phải bồi thường thiệt hại cho công ty không?
Cổ đông sáng lập vi phạm quy định về chuyển nhượng cổ phần có thể phải bồi thường thiệt hại cho công ty nếu hành vi đó gây ra thiệt hại thực tế. Nếu cổ đông sáng lập là người đại diện theo pháp luật của công ty thì phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại gây cho công ty theo khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp 2025. Trong trường hợp “bán chui” cổ phần, nếu việc chuyển nhượng trái quy định, gây thiệt hại cho công ty hoặc người khác thì các cổ đông còn lại có quyền yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều 166 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.

Không phải mọi trường hợp vi phạm đều phải bồi thường, nhưng nếu chứng minh được có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả với hành vi “bán chui”, thì cổ đông sáng lập bắt buộc phải bồi thường cho công ty theo quy định pháp luật.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
Các công ty cổ phần khi gặp phải trường hợp liên quan đến sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài thường gặp phải các thắc mắc sau đây.
1. Cổ đông sáng lập có được tự do chuyển nhượng cổ phần cho người không phải là cổ đông sáng lập không?
Cổ đông sáng lập có thể không được tự do chuyển nhượng cổ phần cho người không phải là cổ đông sáng lập. Trong thời gian 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
Tuy nhiên, hạn chế trên sẽ không áp dụng đối với cổ phần phổ thông quy định khoản 4 Điều này. Cụ thể là cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp hay cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập.
Từ đó có thể thấy cổ đông sáng lập sẽ có phần không được tự do chuyển nhượng cổ phần cho người không phải là cổ đông sáng lập.
2. Người nhận chuyển nhượng cổ phần trong giao dịch bán chui có được công nhận tư cách cổ đông không?
Người nhận chuyển nhượng cổ phần trong giao dịch “bán chui” không đương nhiên được công nhận tư cách cổ đông, mà phụ thuộc vào tính hợp pháp của giao dịch và việc hoàn tất thủ tục theo quy định.
Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, nếu cổ đông sáng lập chuyển nhượng cổ phần cho người ngoài trong thời hạn hạn chế mà không được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, thì giao dịch này không đáp ứng điều kiện pháp lý. Đồng thời, theo Điều 122 Luật này quy định chỉ khi thông tin của người nhận chuyển nhượng được ghi nhận vào sổ đăng ký cổ đông thì mới chính thức có tư cách cổ đông.
Do đó, trong trường hợp “bán chui”, nếu giao dịch không hợp lệ hoặc không được công ty ghi nhận, người nhận chuyển nhượng sẽ không được công nhận tư cách cổ đông.
3. Trường hợp cổ đông sáng lập bán cổ phần trái quy định thì giao dịch đó có thể bị tuyên vô hiệu không?
Giao dịch chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập có thể bị tuyên vô hiệu nếu vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch theo quy định pháp luật.
Cụ thể, theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, việc chuyển nhượng cổ phần cho người không phải cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm kể từ khi có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Nếu không có sự chấp thuận này mà vẫn thực hiện chuyển nhượng, thì giao dịch đã vi phạm điều kiện bắt buộc của pháp luật. Đồng thời, theo Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vô hiệu khi vi phạm điều cấm của luật hoặc không đáp ứng điều kiện có hiệu lực (điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật này).
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều đương nhiên vô hiệu. Việc tuyên vô hiệu phải do Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền xem xét trên cơ sở tình tiết và hậu quả của giao dịch.
4. Việc chuyển nhượng cổ phần thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc nhờ người khác đứng tên có bị xem là vi phạm quy định hạn chế chuyển nhượng không?
Việc chuyển nhượng cổ phần thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc nhờ người khác đứng tên có thể không vi phạm hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Bởi lẽ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Nếu việc chuyển nhượng cổ phần này phù hợp với quy định hạn chế chuyển nhượng thì sẽ không vi phạm.
Chẳng hạn trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025 là chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác hoặc không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông thì cổ đông có thể thông qua hợp đồng ủy quyền hoặc nhờ người khác đứng tên chuyển nhượng cổ phần.
Việc ủy quyền hoặc nhờ người khác đứng tên chỉ hợp pháp khi không làm thay đổi bản chất tuân thủ các điều kiện hạn chế chuyển nhượng theo luật. Ngược lại, nếu các hình thức này được sử dụng nhằm che giấu hoặc né tránh quy định pháp luật thì vẫn bị xem là vi phạm và tiềm ẩn rủi ro pháp lý.
5. Công ty có nghĩa vụ thông báo cho các cổ đông khác khi phát hiện giao dịch chuyển nhượng trái luật không?
Công ty không có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải thông báo cho các cổ đông khác khi phát hiện giao dịch chuyển nhượng cổ phần trái luật, do pháp luật doanh nghiệp hiện hành không quy định cụ thể nghĩa vụ này. Tuy nhiên, theo Điều 122 Luật Doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025, công ty có trách nhiệm quản lý và cập nhật sổ đăng ký cổ đông một cách chính xác, trung thực. Đồng thời, để đảm bảo nguyên tắc minh bạch và bảo vệ quyền lợi cổ đông, doanh nghiệp nên chủ động thông tin hoặc báo cáo tại Đại hội đồng cổ đông khi phát hiện vi phạm.
Dù không bắt buộc theo luật, việc thông báo cho các cổ đông khác là cần thiết trong thực tiễn quản trị nhằm hạn chế tranh chấp và đảm bảo minh bạch trong công ty.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài
Việc tìm luật sư tại NPLaw giúp doanh nghiệp đánh giá đúng tính pháp lý của giao dịch “bán chui” cổ phần và hạn chế rủi ro tranh chấp. Với kinh nghiệm trong lĩnh vực doanh nghiệp, luật sư sẽ tư vấn phương án xử lý phù hợp, bảo vệ quyền lợi cổ đông và đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật. Đồng thời, NPLaw hỗ trợ soạn thảo hồ sơ, đại diện làm việc và giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả.
Vấn đề sáng lập viên bán chui cổ phần ra bên ngoài không chỉ ảnh hưởng đến tính hợp pháp của giao dịch mà còn tiềm ẩn nhiều tranh chấp và hệ quả pháp lý cho doanh nghiệp. Do đó, việc tuân thủ đúng quy định pháp luật và có sự tư vấn kịp thời từ chuyên gia là yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn pháp lý và ổn định hoạt động doanh nghiệp.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.