Lợi ích của bạn - Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi
0913449968 0913419996 legal@nplaw.vn

Hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty có thể bị xử lý kỷ luật lao động, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm.

Hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty có thể bị xử lý kỷ luật lao động, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm.

I. Thực trạng liên quan đến nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty

Trong bối cảnh doanh nghiệp hiện đại, việc sử dụng chữ ký điện tử, chứng từ thanh toán và uỷ nhiệm chi là cơ chế phổ biến để giao dịch tài chính nhanh chóng với ngân hàng. Tuy nhiên, nếu hệ thống kiểm soát nội bộ lỏng lẻo, thiếu sự phân quyền/giám sát, thì nguy cơ rủi ro nội bộ có thể biến thành thiệt hại thực sự cho doanh nghiệp.

Một trong những rủi ro nổi bật là việc nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty cho mục đích cá nhân, hành vi đã từng xảy ra nhiều nơi và bị xử lý hình sự khi bị phát hiện. Đây không chỉ là hành vi vi phạm nội quy công ty mà còn có thể cấu thành hành vi gian lận, chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự, gây thiệt hại trực tiếp cho tài chính doanh nghiệp và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hoạt động kinh doanh. 

II. Khái niệm về nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty

Hành vi giả mạo chữ ký của người đại diện theo pháp luật để thực hiện giao dịch tài chính là vấn đề pháp lý phức tạp, dễ bị nhầm lẫn với các trường hợp ký thay hoặc ủy quyền hợp pháp trong nội bộ doanh nghiệp. Để hiểu rõ bản chất và ranh giới pháp lý của hành vi này, cần làm rõ khái niệm, hình thức thực hiện cũng như sự khác biệt giữa giả mạo và ủy quyền đúng quy định.

1. Nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty là gì?

“Nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty” là hành vi khi một người lao động tự ý ký giả chữ ký của người đại diện theo pháp luật lên các chứng từ, ủy nhiệm chi, séc hoặc tài liệu thanh toán khác nhằm rút tiền từ tài khoản của doanh nghiệp mà không được phép. Bản chất của hành vi này là lừa dối và chiếm đoạt tài sản của công ty, vì người ký giả không có quyền đại diện để yêu cầu thanh toán hoặc rút tiền từ tài khoản doanh nghiệp nhưng lại sử dụng chữ ký giả để qua mặt bộ phận kế toán hoặc ngân hàng.

Hành vi giả mạo chữ ký không chỉ là sai phạm trong nội quy công ty mà còn được coi là gian lận nội bộ, có thể cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự khi gây thiệt hại về tài sản, bởi người thực hiện đã sử dụng chữ ký giả để tạo ra giao dịch tài chính không đúng với ủy quyền thực tế. 

2. Việc sử dụng chữ ký scan, chữ ký khắc sẵn hoặc chữ ký điện tử trái phép có được coi là giả mạo không?

Theo Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023, chữ ký điện tử chỉ được công nhận khi đáp ứng các điều kiện xác định được chủ thể ký, thể hiện sự chấp thuận của chủ thể ký đối với thông điệp dữ liệu, dữ liệu tạo chữ ký phải thuộc sự kiểm soát của chính chủ thể ký tại thời điểm ký và bảo đảm tính toàn vẹn của nội dung sau khi ký. Đối với chữ ký số, ngoài các điều kiện trên còn phải được bảo đảm bởi chứng thư chữ ký số hợp lệ theo quy định.

Về giá trị pháp lý, khoản 2 Điều 23 Luật Giao dịch điện tử 2023 quy định chữ ký điện tử chuyên dùng bảo đảm an toàn hoặc chữ ký số có giá trị pháp lý tương đương chữ ký tay. Điều này đồng nghĩa, nếu một chữ ký điện tử không đáp ứng các điều kiện tại Điều 22 hoặc không thuộc trường hợp được công nhận tại Điều 23 thì không được xem là chữ ký hợp pháp.

Do vậy, việc sử dụng chữ ký scan, chữ ký khắc sẵn hoặc chữ ký điện tử không mặc nhiên là trái pháp luật; tuy nhiên, nếu được thực hiện khi không có sự chấp thuận, ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền và không bảo đảm điều kiện về tính xác thực, quyền kiểm soát dữ liệu tạo chữ ký theo khoản 1 Điều 22 Luật Giao dịch điện tử 2023, thì có thể bị xem là hành vi giả mạo. Trường hợp hành vi này nhằm mục đích rút tiền hoặc xác lập giao dịch trái phép gây thiệt hại, cá nhân vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, kỷ luật lao động hoặc trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra.

3. Giả mạo chữ ký của giám đốc khác gì với việc ký thay khi được ủy quyền hợp pháp?

Sự khác biệt cốt lõi nằm ở yếu tố thẩm quyền và căn cứ ủy quyền. Giả mạo chữ ký là hành vi tự ý ký tên giám đốc hoặc sử dụng chữ ký của giám đốc khi không được phép, không có văn bản ủy quyền và không có sự chấp thuận của người có thẩm quyền. Đây là hành vi trái pháp luật, đặc biệt nghiêm trọng nếu được thực hiện nhằm rút tiền hoặc tạo lập giao dịch tài chính trái phép.

Ngược lại, ký thay hợp pháp là việc ký trong phạm vi được giao theo đúng quy định pháp luật. Theo Điều 13 Nghị định 30/2020/NĐ-CP, cấp phó có thể ký thay, ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền hoặc ký thay mặt nhưng phải đúng thẩm quyền, đúng thể thức và trong trường hợp thừa ủy quyền phải có văn bản ủy quyền cụ thể, giới hạn nội dung và thời gian. Người ký phải chịu trách nhiệm về văn bản do mình ký.

Tóm lại, nếu có ủy quyền hợp pháp và thực hiện đúng phạm vi thì là ký thay hợp pháp; nếu không có ủy quyền, vượt quá thẩm quyền hoặc cố ý che giấu việc ký thay để tạo giao dịch trái phép, thì đó là giả mạo chữ ký và có thể bị xử lý theo quy định pháp luật.

III. Quy định của pháp luật liên quan đến nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty

Hành vi giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty không chỉ là vi phạm nội bộ mà còn có thể kéo theo nhiều hệ quả pháp lý nghiêm trọng. Để xác định đúng trách nhiệm và hướng xử lý, cần đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự, dân sự, lao động và quy định về quản lý, sử dụng văn bản.

1. Căn cứ pháp lý nào điều chỉnh hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty?

Hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty trước hết được xem xét dưới góc độ hành vi giả mạo chữ ký nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Theo phân tích pháp lý, đây là hành vi tự ý tạo lập hoặc sử dụng chữ ký của người khác khi không có sự cho phép hoặc ủy quyền hợp pháp, nhằm lừa dối để thực hiện giao dịch trái pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự, nếu việc giả mạo chữ ký được thực hiện để chiếm đoạt tiền của công ty thì có thể bị truy cứu về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Cụ thể, theo khoản 1 Điều 174, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định (như đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm; đã bị kết án về các Tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.; mức hình phạt tăng nặng có thể lên đến tù chung thân nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

Trường hợp hành vi giả mạo gắn với việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm theo Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) về Tội giả mạo trong công tác, với mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và có thể lên đến 20 năm tù nếu có tình tiết tăng nặng theo các khoản tiếp theo của điều luật.

Ngoài trách nhiệm hình sự, trong trường hợp hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cá nhân thực hiện hành vi giả mạo chữ ký vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Ví dụ, trong lĩnh vực công chứng, điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định 82/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 12 Điều 1 Nghị định 117/2024/NĐ-CP) quy định phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo chữ ký của người yêu cầu công chứng; giả mạo chữ ký của công chứng viên; giả mạo, thuê hoặc nhờ người khác giả mạo người yêu cầu công chứng hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan để công chứng hợp đồng, giao dịch. Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 5 Điều 12, như buộc thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định.

Tóm lại, hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền không chỉ là vi phạm nội bộ doanh nghiệp mà còn có thể bị điều chỉnh bởi Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) và các văn bản xử phạt hành chính liên quan, tùy theo tính chất, mục đích và hậu quả của hành vi.

2. Công ty cần thực hiện thủ tục như thế nào khi phát hiện nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty?

Khi phát hiện nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền, doanh nghiệp cần hành động ngay và theo đúng trình tự pháp lý để bảo vệ quyền lợi, thu hồi tài sản và tạo cơ sở để cơ quan chức năng xử lý người vi phạm.

Trước hết, doanh nghiệp nên tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nội bộ rõ ràng, bao gồm sao kê giao dịch, chứng từ rút tiền, dữ liệu hệ thống ngân hàng, nhật ký truy cập tài khoản, và biên bản làm việc nội bộ. Những tài liệu này là căn cứ quan trọng để chứng minh rõ hành vi giả mạo chữ ký và thiệt hại xảy ra.

Ngay sau khi có bằng chứng ban đầu, công ty cần gửi “tố giác tội phạm” hoặc “tin báo về tội phạm” đến cơ quan Cảnh sát điều tra nơi xảy ra hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 144 và Điều 145 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Đây là bước pháp lý quan trọng để cơ quan chức năng mở điều tra, thu giữ chứng cứ, phong tỏa tài khoản (nếu cần thiết) và xử lý theo quy định pháp luật.

Song song với tố giác, doanh nghiệp cũng có thể gửi yêu cầu tạm dừng, phong tỏa tài khoản đến ngân hàng nơi giao dịch đã phát sinh để ngăn chặn việc rút tiền tiếp theo, rồi phối hợp với ngân hàng và cơ quan điều tra trong quá trình xử lý sự việc.

Cuối cùng, tùy kết quả xác minh và điều tra, doanh nghiệp có thể thực hiện các biện pháp pháp lý tương ứng. Thứ nhất, xử lý kỷ luật lao động đối với người vi phạm trên cơ sở nội quy lao động hợp pháp của công ty và tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục theo Điều 122, 123, 124 Bộ luật Lao động 2019. Thứ hai, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị hại/nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự để yêu cầu hoàn trả tài sản. 

Việc thực hiện đúng căn cứ nội quy và quy định pháp luật lao động, đồng thời phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng khi cần thiết, sẽ giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi và hạn chế rủi ro pháp lý phát sinh.

3. Nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty có bị xem là làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức không?

Câu trả lời là có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, nếu hành vi giả mạo chữ ký gắn liền với việc làm giả hoặc sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 341 Điều này, người nào làm giả tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng tài liệu, giấy tờ đó để thực hiện hành vi trái pháp luật thì có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trong trường hợp nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc trên ủy nhiệm chi, lệnh chi tiền, chứng từ kế toán,… để rút tiền, thì các chứng từ này được xem là tài liệu của tổ chức. Việc tự ý ký giả nhằm hợp thức hóa việc rút tiền trái phép có thể bị coi là làm giả tài liệu hoặc sử dụng tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật theo đúng cấu thành tại Điều 341.

Ngoài ra, nếu hành vi thuộc các tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 341 (ví dụ: có tổ chức, thu lợi bất chính từ 10 triệu đồng trở lên, hoặc sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm khác), thì mức phạt tù có thể từ 02 năm đến 07 năm. Người phạm Tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo khoản 4 Điều 341.

Tóm lại, khi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền, hành vi này không chỉ có thể cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (nếu đủ yếu tố) mà còn có thể đồng thời bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.

4. Nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty bị xử phạt như thế nào?

Hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả gây ra. Trong thực tế, nếu hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của công ty thì đa phần sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp hành vi giả mạo chữ ký được thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản, người vi phạm có thể bị truy cứu về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Cụ thể, theo khoản 1 Điều 174, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định (như đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm; đã bị kết án về các Tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ), thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp phạm Tội có tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 Điều 174 (như có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; chiếm đoạt tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; tái phạm nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; dùng thủ đoạn xảo quyệt), thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Nếu chiếm đoạt tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng theo khoản 3, mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; và nếu chiếm đoạt tài sản từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc thuộc trường hợp lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp theo khoản 4, thì có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Bên cạnh đó, hành vi giả mạo chữ ký trên chứng từ, ủy nhiệm chi, hồ sơ ngân hàng,… để thực hiện việc rút tiền còn có thể bị xử lý về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Theo khoản 1 Điều 341, người phạm Tội có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; trường hợp có tình tiết tăng nặng theo khoản 2, khoản 3 thì mức phạt có thể lên đến 07 năm tù.

Ngoài trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi còn phải bồi thường thiệt hại cho công ty theo quy định của pháp luật dân sự và có thể bị xử lý kỷ luật lao động ở mức cao nhất là sa thải. Theo đó, giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền công ty không chỉ vi phạm nội quy doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn nguy cơ chịu trách nhiệm hình sự với mức xử phạt rất nghiêm khắc theo quy định pháp luật hiện hành.

IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty

Bên cạnh các quy định pháp lý và chế tài xử lý, trên thực tế doanh nghiệp còn phát sinh nhiều tình huống phức tạp liên quan đến hành vi giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty. Việc xác định trách nhiệm, quyền xử lý của doanh nghiệp cũng như hậu quả pháp lý trong từng trường hợp cụ thể là vấn đề được nhiều đơn vị quan tâm. Dưới đây là phần giải đáp các thắc mắc thường gặp liên quan đến hành vi này.

1. Doanh nghiệp có quyền sa thải nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty theo Bộ luật Lao động 2019 không?

Khi phát hiện nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty, doanh nghiệp có quyền áp dụng hình thức kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động 2019 nếu hành vi đó gây thất thoát tài sản, xâm phạm lợi ích và tài sản của người sử dụng lao động. Điều này xuất phát từ quy định liên quan đến xử lý kỷ luật lao động, trong đó sa thải là biện pháp nặng nhất mà người sử dụng lao động có thể áp dụng đối với người lao động vi phạm nghiêm trọng nội quy hoặc pháp luật.

Cụ thể, theo khoản 2 Điều 125 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động được quyền sa thải nhân viên có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động, nếu hành vi đó được quy định trong nội quy lao động. Việc giả mạo chữ ký giám đốc nhằm rút tiền trái phép rõ ràng có thể được xếp vào trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, từ đó cho phép doanh nghiệp áp dụng sa thải theo đúng quy định này.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nên quy định rõ trong nội quy lao động về các hành vi liên quan đến sử dụng trái phép quyền truy cập tài khoản, giả mạo chữ ký,… để tạo cơ sở pháp lý vững chắc khi tiến hành xử lý kỷ luật sa thải người vi phạm. 

2. Trường hợp nhân viên giả mạo chữ ký nhưng không trực tiếp rút tiền mà nhờ người khác thực hiện thì xử lý ra sao?

Trong trường hợp nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc nhưng không trực tiếp rút tiền mà nhờ người khác thực hiện giao dịch, pháp luật vẫn có thể truy cứu trách nhiệm của cả hai người theo quy định về tham gia giúp sức hoặc đồng phạm trong tội phạm. Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), người giúp sức, người xúi giục tham gia cùng thực hiện hành vi phạm Tội sẽ chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với vai trò, mức độ tham gia trong Tội danh chính mà họ cùng thực hiện.

Cụ thể, nếu hành vi giả mạo chữ ký được dùng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì người trực tiếp rút tiền và người đã giúp thực hiện giao dịch có thể bị truy cứu trách nhiệm theo cùng một Tội danh chính (như Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) hoặc Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) và vai trò của từng người sẽ được làm rõ khi truy tố. Việc nhờ người khác rút tiền không làm giảm trách nhiệm của người giả mạo chữ ký vì hành vi đó vẫn là một phần trong chuỗi hành vi phạm Tội do các bên phối hợp thực hiện.

Khi xét xử, Tòa án sẽ đánh giá toàn bộ hành vi, vai trò tham gia, mối liên hệ giữa các bị cáo để quyết định mức xử phạt phù hợp với căn cứ pháp luật trong Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự cho từng người.

Vì vậy, dù người giả mạo chữ ký không trực tiếp thao tác rút tiền, nhưng việc nhờ người khác thực hiện hành vi này vẫn không loại trừ trách nhiệm hình sự của người đó và người đã giúp làm trái pháp luật, tùy theo vai trò và mức độ tham gia trong việc thực hiện tội phạm chung. 

3. Nếu có nhiều người cùng tham gia giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty thì trách nhiệm được xác định ra sao?

Trong trường hợp có nhiều người cùng tham gia thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty, pháp luật hình sự Việt Nam xem đây là tình huống đồng phạm và trách nhiệm hình sự của từng người được xác định theo quy định tại Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025). Theo đó, đồng phạm là trường hợp hai người trở lên cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm; những người này có thể đóng vai trò tổ chức, thực hành, xúi giục hoặc giúp sức trong quá trình phạm Tội.

Khi đánh giá trách nhiệm của mỗi người đồng phạm, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định rõ: Tòa án phải căn cứ vào tính chất của hành vi đồng phạm và mức độ, vai trò tham gia của từng đối tượng để quyết định hình phạt cho mỗi người. Điều này có nghĩa là dù nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm Tội, nhưng mức độ trách nhiệm và hình phạt của họ có thể khác nhau, tùy vào vai trò cụ thể như tổ chức, thực hành chính, xúi giục hay giúp sức.

Ngoài ra, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự (như khai báo thành khẩn, phạm Tội có tổ chức, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng…) cũng chỉ được áp dụng cho từng người đồng phạm riêng biệt dựa trên hoàn cảnh và hành vi cụ thể của họ trong vụ án.

Do đó, khi nhiều người cùng tham gia việc giả mạo chữ ký để rút tiền, mỗi người sẽ chịu trách nhiệm hình sự theo vai trò và mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm Tội, và Tòa án sẽ quyết định hình phạt tương ứng cho từng người. 

4. Nếu công ty phát hiện hành vi giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty sau khi đã quyết toán tài chính năm thì có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính không?

Khi công ty phát hiện hành vi giả mạo chữ ký của giám đốc sau khi đã quyết toán tài chính năm, điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính đã lập và công bố nếu hành vi đó làm sai lệch số liệu kế toán của niên độ đã kết thúc. Theo Điều 5 Luật Kế toán 2015 về yêu cầu kế toán, báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp; mọi sai sót hoặc gian lận dẫn đến số liệu không chính xác đều phải được điều chỉnh.

Cụ thể, nếu việc giả mạo chữ ký dẫn đến ghi nhận sai các khoản thu - chi, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các bút toán kế toán không đúng bản chất giao dịch, thì báo cáo tài chính đã quyết toán sẽ không còn phản ánh đúng thực tế. Khi đó, doanh nghiệp có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh và lập lại báo cáo tài chính của năm tương ứng. Nếu không thực hiện điều chỉnh mà để tồn tại số liệu sai lệch, doanh nghiệp có thể bị xử phạt theo khoản 3 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức do hành vi làm sai lệch số liệu báo cáo tài chính.

Trường hợp báo cáo đã nộp cho cơ quan thuế, doanh nghiệp được phép thực hiện kê khai bổ sung hồ sơ theo Điều 47 Luật Quản lý thuế 2019 trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ, với điều kiện việc bổ sung được thực hiện trước khi cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.

Nhìn chung, việc phát hiện hành vi giả mạo chữ ký sau quyết toán năm chắc chắn có thể ảnh hưởng đến báo cáo tài chính nếu làm sai lệch số liệu kế toán. Doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh kịp thời để đảm bảo tính minh bạch, tuân thủ pháp luật và hạn chế Tội đa rủi ro xử phạt hành chính hoặc trách nhiệm pháp lý phát sinh.

5. Công ty có phải chịu trách nhiệm liên đới nếu để nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty do thiếu kiểm soát nội bộ?

Về nguyên tắc, hành vi giả mạo chữ ký để rút tiền là hành vi vi phạm pháp luật do cá nhân người lao động thực hiện, và cá nhân đó phải chịu trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự tương ứng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp vẫn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nhất định nếu thiệt hại phát sinh trong quá trình nhân viên thực hiện công việc được giao.

Theo khoản 1 Điều 597 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao. Sau khi đã bồi thường, pháp nhân có quyền yêu cầu người có lỗi hoàn trả một khoản tiền theo quy định pháp luật. Như vậy, nếu hành vi giả mạo chữ ký xảy ra trong quá trình nhân viên thực hiện công việc và gây thiệt hại cho bên thứ ba, công ty có thể phải đứng ra bồi thường trước, sau đó yêu cầu nhân viên hoàn trả.

Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật Dân sự 2015, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân. Do đó, nếu giao dịch rút tiền được thực hiện dưới danh nghĩa công ty và bên thứ ba ngay tình, doanh nghiệp có thể vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự phát sinh từ giao dịch đó.

Tuy nhiên, về trách nhiệm hình sự, theo Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025), pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các Tội danh được liệt kê cụ thể trong luật. Các Tội như Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) hoặc Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341) chỉ làm phát sinh trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân nếu đáp ứng đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm pháp nhân (hành vi được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân và có sự chỉ đạo, chấp thuận của pháp nhân). Nếu đây chỉ là hành vi cá nhân tự ý thực hiện nhằm trục lợi riêng, thì doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm hình sự thay cho người lao động.

Tóm lại, nếu việc giả mạo chữ ký xảy ra do thiếu kiểm soát nội bộ, công ty có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự thay cho nhân viên, nhưng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cần tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ để hạn chế rủi ro pháp lý và trách nhiệm phát sinh trong tương lai.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty

Hành vi nhân viên giả mạo chữ ký của giám đốc để rút tiền từ tài khoản công ty có thể gây thiệt hại tài sản và kéo theo trách nhiệm hình sự, tranh chấp lao động, nghĩa vụ bồi thường. Nếu xử lý không đúng quy trình, doanh nghiệp còn có nguy cơ phát sinh khiếu kiện và gặp khó khăn trong việc thu hồi tài sản.

Vì vậy, doanh nghiệp cần được tư vấn kịp thời về căn cứ sa thải, tố giác tội phạm, yêu cầu bồi thường và các biện pháp bảo toàn tài sản để đảm bảo xử lý đúng luật và hạn chế rủi ro pháp lý.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.

CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Điện thoại Hotline 1: 0913449968 Hotline 2: 0913419996

Dịch vụ liên quan

Những đặc điểm cần lưu ý về giải thể doanh nghiệp

Chủ thể chủ yếu của nền kinh tế thị trường chính là các doanh nghiệp. Hiểu biết...

Khi nào cần thay đổi đăng ký kinh doanh?

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, đôi lúc doanh nghiệp sẽ có nhu cầu thay đổ...

Thành lập chi nhánh - địa điểm kinh doanh - văn phòng đại diện

Thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh hình thức nào sẽ ...

Thành lập doanh nghiệp dễ dàng hơn cùng NPLAW

Trong bài viết này, NPlaw xin đưa ra một số vấn đề quan trọng nhằm hỗ trợ chủ do...

Những điều cần biết về hợp đồng góp vốn

Trong việc thành lập công ty, vốn góp là một vấn đề then chốt. Thực tế cho thấy,...

Thủ tục nộp hồ sơ giải thể doanh nghiệp chi tiết

Trong bối cảnh tình hình dịch bệnh covid 19 vẫn diễn ra phức tạp, gây ảnh hưởng...

Bản chất của hợp đồng bcc

Quá trình hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài mang lại kết quả khả quan,...

Quy định về thế chấp tài sản theo quy định tại bộ luật dân sự 2015

Nền kinh tế ngày càng phát triển, các hoạt động tín dụng ngày càng sôi nổi và va...

WhatsApp WeChat Zalo hotline 0913449968 hotline
0
Bạn đang quan tâm đến

Chúng tôi sẵn sàng tư vấn miễn phí cho bạn!

Tư vấn điện thoại Zalo Tư vấn qua Zalo