Bài viết làm rõ vấn đề nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, phân tích nghĩa vụ trả nợ và các rủi ro pháp lý liên quan. Đồng thời, đưa ra căn cứ pháp luật và hướng xử lý phù hợp để doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi của mình.
Bài viết làm rõ vấn đề nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, phân tích nghĩa vụ trả nợ và các rủi ro pháp lý liên quan. Đồng thời, đưa ra căn cứ pháp luật và hướng xử lý phù hợp để doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi của mình.
I. Thực trạng liên quan đến nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả
Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng linh hoạt các chính sách phúc lợi nội bộ, một trong những hình thức hỗ trợ tài chính cho người lao động là hỗ trợ vay tiền từ công ty. Tuy nhiên, thực tế cho thấy có không ít trường hợp sau khi ký hợp đồng vay tiền với công ty, một số nhân viên không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký, khiến doanh nghiệp đối mặt với rủi ro tài chính và pháp lý đáng kể. Khi nhân viên chậm trả hoặc không trả nợ, doanh nghiệp không chỉ phát sinh các tổn thất kinh tế trực tiếp mà còn phải đối diện với việc theo đuổi thu hồi nợ, xử lý hợp đồng và thậm chí tranh chấp trước tòa nếu hai bên không thỏa thuận được phương án giải quyết.

Thực trạng này không chỉ gây khó khăn cho quản trị tài chính, mà còn dễ dẫn tới xung đột nội bộ và ảnh hưởng đến mối quan hệ lao động - doanh nghiệp, nhất là khi công ty không có chính sách, quy trình cho vay và thu hồi nợ rõ ràng ngay từ đầu. Việc thiếu cơ chế kiểm soát rủi ro cho vay nội bộ hoặc không có biện pháp pháp lý chặt chẽ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ có thể khiến doanh nghiệp phải chịu thiệt hại lâu dài và hệ lụy không mong muốn trong quản lý nhân sự và tài chính.
II. Khái niệm về nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả
Để đánh giá đúng bản chất pháp lý của việc nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, trước hết cần làm rõ khái niệm và đặc điểm của quan hệ vay tiền trong nội bộ doanh nghiệp. Việc phân biệt rõ giữa khoản vay, khoản tạm ứng lương và xác định đúng loại quan hệ pháp luật điều chỉnh sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn hướng xử lý phù hợp. Các nội dung dưới đây sẽ lần lượt phân tích từng khía cạnh cụ thể của vấn đề này.
1. Nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả là gì?
“Nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả” là trường hợp người lao động và doanh nghiệp thỏa thuận về việc cho nhân viên vay một khoản tiền, ghi nhận bằng hợp đồng vay mượn có hiệu lực pháp lý, theo đó nhân viên là người vay và công ty là người cho vay. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay là giao dịch dân sự trong đó bên cho vay giao tiền cho bên vay và bên vay có nghĩa vụ trả lại số tiền tương đương khi đến hạn thanh toán; nếu là khoản vay tiền, bên vay phải trả đủ tiền theo thỏa thuận tại hợp đồng hoặc theo quy định pháp luật.
Trong bối cảnh này, nếu nhân viên nhận tiền từ công ty theo hợp đồng vay nhưng không trả nợ đúng hạn hoặc từ chối hoàn trả khi có khả năng thì hành vi đó không chỉ làm thiệt hại quyền lợi tài sản của doanh nghiệp mà trong một số trường hợp cụ thể còn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) nếu có yếu tố cố ý và đủ cấu thành tội phạm.
2. Sự khác biệt giữa khoản vay tiền và khoản tạm ứng lương trong doanh nghiệp là gì?
Sự khác nhau cơ bản giữa khoản vay tiền từ công ty và tạm ứng lương nằm ở *bản chất pháp lý và mục đích sử dụng tiền.
- Khoản vay tiền là giao dịch dân sự độc lập: khi công ty cho nhân viên vay tiền, giữa hai bên ký kết hợp đồng vay vốn theo quy định của Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó nhân viên có nghĩa vụ trả lại số tiền đã vay theo thỏa thuận về thời hạn, phương thức và có thể kèm điều kiện lãi suất hoặc không. Đây là một nghĩa vụ pháp lý rõ ràng giữa người cho vay và người vay, không phụ thuộc vào thang lương hay kỳ trả lương định kỳ.
- Khoản tạm ứng lương là việc người sử dụng lao động trả trước một phần hoặc toàn bộ tiền lương cho nhân viên mà họ đã có quyền được hưởng theo Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 để phục vụ các nhu cầu tạm thời, như trợ cấp ngay khi làm việc chưa đến kỳ trả lương; khoản này không phải là giao dịch dân sự cho vay mà chỉ là việc chi tạm trước thu nhập hợp pháp của người lao động, và không có lãi phát sinh khi hoàn trả.
Tóm lại, vay tiền là nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng dân sự, còn tạm ứng lương là thanh toán sớm một phần tiền lương đã thuộc về người lao động theo thỏa thuận hoặc quy định pháp luật lao động.
3. Quan hệ giữa nhân viên và công ty trong trường hợp vay tiền được xác định là quan hệ dân sự hay quan hệ lao động?
Trong trường hợp nhân viên vay tiền từ công ty, quan hệ vay này không làm thay đổi bản chất của quan hệ lao động mà chỉ phát sinh thêm một quan hệ pháp luật dân sự độc lập giữa hai bên. Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động; do đó, quan hệ lao động vẫn được xác định trên cơ sở nội dung này, còn việc vay tiền là giao dịch dân sự riêng biệt, không làm chuyển hóa bản chất quan hệ lao động.
Ngược lại, khi công ty cho nhân viên vay tiền và lập hợp đồng vay vốn theo quy định của pháp luật dân sự, thì việc này thuộc quan hệ dân sự phát sinh quyền và nghĩa vụ trả nợ giữa người cho vay và người vay theo các quy định tại Bộ luật Dân sự 2015.

Do đó, trong cùng một trường hợp, một người có thể vừa có quan hệ lao động với công ty (về công việc và tiền lương) và đồng thời phát sinh quan hệ dân sự với công ty (về nghĩa vụ trả nợ) nếu ký hợp đồng vay tiền. Trách nhiệm và biện pháp xử lý trong mỗi quan hệ này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật tương ứng (dân sự cho khoản vay, lao động cho quan hệ lao động).
III. Quy định của pháp luật liên quan đến nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả
Để xử lý và phân tích đúng các vấn đề pháp lý phát sinh khi nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, cần căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật. Phần này sẽ hệ thống hóa những quy định chính trong Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng vay tài sản, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trả nợ của bên vay và điều kiện trong đó hành vi không trả nợ có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015. Nội dung dưới đây sẽ làm rõ từng khía cạnh đó.
1. Bộ luật Dân sự 2015 quy định như thế nào về hợp đồng vay tài sản?
Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và khi đến hạn, bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại đúng số lượng, chất lượng; chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối với tài sản vay là tiền, bên vay có nghĩa vụ trả đủ tiền khi đến hạn theo khoản 1 Điều 466; nếu chậm trả thì phải chịu lãi chậm trả theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 466.
Về lãi suất, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác; phần vượt quá mức này sẽ không có hiệu lực. Ngoài ra, Bộ luật cũng quy định rõ cách thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn và có kỳ hạn tại Điều 469 và Điều 470, làm cơ sở xác định quyền đòi nợ, quyền trả trước hạn và nghĩa vụ thanh toán lãi.
Như vậy, khi công ty cho nhân viên vay tiền và có ký hợp đồng vay, quan hệ này được điều chỉnh bởi các quy định nêu trên của Bộ luật Dân sự 2015, và nhân viên có nghĩa vụ pháp lý phải hoàn trả tiền vay theo đúng thỏa thuận và thời hạn đã cam kết.
2. Công ty có được áp dụng biện pháp bảo đảm (thế chấp, bảo lãnh) khi cho nhân viên vay tiền không?
Theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015 về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, các bên có thể thỏa thuận các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để tăng an toàn cho giao dịch vay tiền, trong đó bao gồm nhiều hình thức bảo đảm khác nhau như: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp…
Trong thực tế, nếu công ty và nhân viên thỏa thuận thì hợp đồng vay tiền giữa công ty (bên cho vay) và nhân viên (bên vay) có thể được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cam kết của bên thứ ba (bảo lãnh) theo thỏa thuận giữa hai bên. Ví dụ, bên vay hoặc bên bảo lãnh có thể dùng tài sản của mình làm thế chấp để đảm bảo việc trả nợ, hoặc một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ nếu bên vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình
Tóm lại, pháp luật không cấm công ty sử dụng biện pháp bảo đảm như thế chấp tài sản, bảo lãnh hay các biện pháp khác khi cho nhân viên vay tiền, miễn là các điều khoản này được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng và không trái quy định về giao dịch bảo đảm của pháp luật hiện hành. Việc lựa chọn và áp dụng biện pháp cụ thể sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên và đảm bảo quyền lợi của người cho vay.
3. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định cụ thể ra sao?
Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ tài sản đã vay khi đến hạn. Cụ thể, nếu vay tiền thì phải trả đủ tiền; nếu vay vật thì phải trả vật cùng loại, đúng số lượng và chất lượng, trừ khi các bên có thỏa thuận khác (khoản 1 Điều 466). Trường hợp không thể trả vật, bên vay có thể trả bằng tiền theo giá trị của vật tại thời điểm và địa điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý (khoản 2 Điều 466).
Về địa điểm trả nợ, theo khoản 3 Điều 466, mặc định là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên cho vay, trừ khi có thỏa thuận khác. Đáng lưu ý, nếu vay không có lãi nhưng chậm trả, bên vay vẫn phải trả lãi chậm trả theo khoản 4 Điều 466 (mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468). Trường hợp vay có lãi mà không trả đúng hạn, bên vay phải trả lãi theo thỏa thuận và lãi quá hạn có thể lên tới 150% lãi suất vay theo hợp đồng đối với phần nợ gốc quá hạn (điểm a, b khoản 5 Điều 466).

Do đó, trong trường hợp nhân viên vay tiền của công ty nhưng không hoàn trả đúng hạn, nghĩa vụ trả nợ không chỉ dừng lại ở khoản tiền gốc mà còn có thể bao gồm lãi trong hạn, lãi chậm trả và lãi quá hạn theo đúng quy định pháp luật.
4. Hành vi không hoàn trả tiền vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015 trong trường hợp nào?
Theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, việc nhân viên vay tiền của công ty nhưng không trả không đương nhiên cấu thành tội phạm. Chỉ khi có đầy đủ dấu hiệu chiếm đoạt theo quy định của điều luật này thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật này, người vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thực hiện một trong các hành vi sau:
- Điểm a khoản 1: Vay tài sản theo hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt; hoặc đến thời hạn trả, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
- Điểm b khoản 1: Vay tài sản theo hợp đồng và sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Về giá trị tài sản, tài sản chiếm đoạt phải từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản; đã bị kết án về tội này hoặc các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 Bộ luật Hình sự mà chưa được xóa án tích; hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Về hình phạt, khoản 1 Điều 175 Bộ luật này quy định khung cơ bản là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Theo khoản 2 Điều 175, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm áp dụng khi có một trong các tình tiết định khung tăng nặng sau:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tái phạm nguy hiểm.
Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 175, nếu chiếm đoạt tài sản từ 200.000.000 đồng trở lên thì mức phạt có thể từ 05 năm đến 20 năm tù tùy giá trị tài sản. Ngoài ra, khoản 5 Điều 175 còn quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc tịch thu tài sản.
Như vậy, trường hợp chỉ phát sinh nghĩa vụ trả nợ do quan hệ vay tài sản và không có hành vi gian dối, không có mục đích chiếm đoạt, thì quan hệ được giải quyết theo pháp luật dân sự. Chỉ khi có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả
Khi phát sinh trường hợp nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, doanh nghiệp thường gặp nhiều vướng mắc trong quá trình xử lý và thu hồi khoản nợ. Các câu hỏi dưới đây sẽ làm rõ những vấn đề thực tiễn như quyền khấu trừ lương, áp dụng lãi suất chậm trả, hiệu lực khi không có hợp đồng bằng văn bản, khả năng gia hạn nghĩa vụ và quyền khởi kiện của công ty. Việc hiểu đúng quy định pháp luật sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án xử lý phù hợp và hạn chế rủi ro pháp lý.
1. Có được khấu trừ tiền lương để thu hồi khoản vay không?
Theo khoản 1 Điều 102 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại trong trường hợp nhân viên gây hư hỏng dụng cụ, thiết bị, tài sản của công ty theo quy định tại Điều 129; tức là chỉ trừ lương để bồi thường thiệt hại tài sản của doanh nghiệp. Khoản khấu trừ này mỗi tháng không được quá 30% tiền lương thực trả sau khi trích các khoản bảo hiểm và thuế theo quy định, và người lao động có quyền biết lý do khấu trừ.
Do đó, việc công ty tự ý khấu trừ tiền lương để thu hồi khoản vay cá nhân (kể cả khoản vay tiền công ty) không thuộc trường hợp được phép theo luật lao động hiện hành và bị coi là vi phạm pháp luật lao động; nếu doanh nghiệp tự ý trừ lương để trả nợ vay thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 19 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.
2. Công ty có được áp dụng lãi suất chậm trả khi nhân viên không hoàn trả khoản vay không?
Có. Khi nhân viên vay tiền của công ty theo hợp đồng vay và không trả hoặc trả không đầy đủ khi đến hạn, pháp luật dân sự quy định bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả lãi suất chậm trả trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ (theo Điều 357 và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015) .
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, các bên có quyền thỏa thuận về lãi suất nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ mức lãi suất và phát sinh tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn nêu trên, tức không quá 10%/năm.
Vì vậy, nếu trong hợp đồng vay giữa công ty và nhân viên có thỏa thuận về lãi suất chậm trả thì áp dụng theo thỏa thuận hợp pháp đó. Nếu không có thỏa thuận rõ ràng, việc xác định lãi suất phải tuân theo giới hạn và nguyên tắc quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
3. Trường hợp không có hợp đồng vay bằng văn bản, công ty có đòi lại tiền được không?
Có. Bộ luật Dân sự 2015 không bắt buộc hợp đồng vay tài sản phải được lập bằng văn bản để có hiệu lực pháp luật (Điều 119), vì giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định (điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015)
Do đó, ngay cả khi công ty cho nhân viên vay tiền không có hợp đồng bằng văn bản, khoản vay đó vẫn được pháp luật công nhận nếu công ty có đủ chứng cứ xác thực như chuyển khoản, biên lai giao tiền, tin nhắn thỏa thuận, lời khai nhân chứng, vi bằng,… chứng minh việc giao tiền và cam kết trả nợ
Khi có đủ chứng cứ để chứng minh hợp đồng vay tồn tại theo hình thức miệng hoặc bằng hành vi, công ty vẫn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu trả nợ theo quy định của pháp luật dân sự
Tuy nhiên, không có văn bản thì việc chứng minh tồn tại và nội dung khoản vay sẽ khó hơn, nên việc thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh ý chí thỏa thuận của các bên là rất quan trọng khi tiến hành khởi kiện hoặc giải quyết tranh chấp.
4. Có thể thương lượng gia hạn thời gian trả nợ khi nhân viên gặp khó khăn tài chính không?
Có. Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vay có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho bên cho vay khi đến hạn. Đồng thời, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy, thời hạn trả nợ có thể được thay đổi nếu các bên cùng thỏa thuận lại.
Ngoài ra, căn cứ Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 về khái niệm hợp đồng và Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015 về nội dung hợp đồng, các bên có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung điều khoản liên quan đến thời hạn trả nợ, lãi suất hoặc điều kiện thanh toán. Việc gia hạn nên được lập thành văn bản để làm căn cứ chứng minh khi có tranh chấp.
Do đó, công ty không thể đơn phương gia hạn mà phải có sự đồng ý của nhân viên; việc thương lượng và ghi nhận rõ ràng bằng văn bản sẽ đảm bảo giá trị pháp lý và hạn chế rủi ro nếu phát sinh tranh chấp sau này.
5. Khi nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, công ty có quyền khởi kiện không?
Có. Khi nhân viên nhận tiền vay từ công ty theo hợp đồng vay tài sản mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, công ty có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật này. Về thẩm quyền theo cấp, căn cứ Điều 35 Bộ luật này, Tòa án nhân dân cấp khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm (trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh theo Điều 37). Về thẩm quyền theo lãnh thổ, theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật này, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết; ngoài ra, theo điểm g khoản 1 Điều 40, nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng.
Cụ thể, công ty có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án buộc nhân viên thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vay hợp pháp và các chứng cứ liên quan (chuyển khoản, biên lai, chứng từ, cam kết trả nợ) để Tòa án xem xét giải quyết. Nếu hợp đồng vay tồn tại và có đủ chứng cứ chứng minh bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thì Tòa án sẽ có quyền tuyên buộc trả nợ theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, trong trường hợp nhân viên cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ dù có điều kiện và khả năng trả, công ty còn có quyền tố giác hành vi này với cơ quan điều tra để xem xét xử lý theo quy định hình sự (như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng hỗ trợ thu hồi tài sản theo pháp luật hiện hành.
Vì vậy, công ty hoàn toàn có quyền khởi kiện để đòi lại khoản tiền đã cho nhân viên vay, miễn là có cơ sở chứng minh việc vay và nghĩa vụ trả nợ theo pháp luật.
V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả
Trên đây là nội dung phân tích về trường hợp nhân viên ký hợp đồng vay tiền từ công ty nhưng không hoàn trả, đây là tình huống có thể phát sinh rủi ro dân sự, lao động và thậm chí hình sự nếu xử lý không đúng quy định. Doanh nghiệp cần xác định đúng quan hệ pháp lý, áp dụng đúng căn cứ pháp luật và chuẩn bị đầy đủ chứng cứ để bảo đảm hiệu quả thu hồi nợ.
Khi có vướng mắc, doanh nghiệp nên nhờ luật sư tư vấn xây dựng hợp đồng vay chặt chẽ, phương án thu hồi nợ hợp pháp hoặc đại diện khởi kiện tại Tòa án nhằm hạn chế rủi ro và tiết kiệm chi phí xử lý tranh chấp.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.