Bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh là một thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, đe dọa đến uy tín, thị phần và lợi nhuận. Để đối phó hiệu quả với tình trạng này, việc am hiểu các quy định pháp luật về cạnh tranh và các biện pháp tự bảo vệ là vô cùng quan trọng. Bài viết này của NPLaw sẽ đi sâu vào thực trạng bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh hiện nay, phân tích các hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến, quy định pháp luật liên quan và các biện pháp xử lý vi phạm giúp doanh nghiệp nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải pháp bảo vệ uy tín và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh là một thách thức lớn đối với nhiều doanh nghiệp, đe dọa đến uy tín, thị phần và lợi nhuận. Để đối phó hiệu quả với tình trạng này, việc am hiểu các quy định pháp luật về cạnh tranh và các biện pháp tự bảo vệ là vô cùng quan trọng. Bài viết này của NPLaw sẽ đi sâu vào thực trạng bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh hiện nay, phân tích các hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến, quy định pháp luật liên quan và các biện pháp xử lý vi phạm giúp doanh nghiệp nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải pháp bảo vệ uy tín và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
I. Thực trạng bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh hiện nay
Thực tế cho thấy, tình trạng bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng phổ biến và tinh vi, gây bức xúc trong cộng đồng doanh nghiệp. Các hành vi này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh lành mạnh. Theo số liệu từ Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trong giai đoạn 2016 - 2020, đã có 56 vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh được xử lý, với tổng mức phạt lên đến hơn 1,6 tỷ đồng. Điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng và phổ biến của vấn đề này. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường gặp bao gồm:
- Bán hàng giả, hàng nhái: Sản xuất và bán các sản phẩm giả mạo nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hoặc chỉ dẫn địa lý của các doanh nghiệp khác, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
- Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ: Sử dụng trái phép các đối tượng sở hữu trí tuệ (nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, bản quyền…) của doanh nghiệp khác mà không được phép.
- Gièm pha, nói xấu đối thủ cạnh tranh: Tung tin đồn thất thiệt, xuyên tạc, bôi nhọ uy tín của sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh nghiệp khác nhằm hạ thấp hình ảnh của đối thủ.
- Gây rối hoạt động kinh doanh: Cản trở khách hàng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ, gây khó khăn cho việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ của đối thủ cạnh tranh.
- Quảng cáo sai sự thật: Cung cấp thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn về chất lượng, công dụng, giá cả hoặc nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng.
- Lôi kéo khách hàng bất chính: Sử dụng các biện pháp khuyến mại, giảm giá bất hợp pháp, hoặc cung cấp thông tin không trung thực để lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
- Bán phá giá: Bán sản phẩm, dịch vụ với giá thấp hơn chi phí sản xuất hoặc giá thành, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp khác và làm rối loạn thị trường.
- Chiếm đoạt thông tin: Thu thập, sử dụng trái phép thông tin bí mật kinh doanh của đối thủ cạnh tranh (như danh sách khách hàng, công thức sản xuất, chiến lược kinh doanh).

II. Quy định pháp luật về việc bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh
1. Các hành vi được coi là bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018, “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác.”
Cụ thể, Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 liệt kê các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, bao gồm:
- Xâm phạm thông tin bí mật: Tiếp cận, sử dụng thông tin bí mật kinh doanh mà không được phép
- Ép buộc khách hàng/đối tác: Đe dọa hoặc cưỡng ép để ngừng giao dịch với doanh nghiệp khác
- Cung cấp thông tin sai lệch: Đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác, gây ảnh hưởng đến uy tín hoặc hoạt động kinh doanh
- Gây rối hoạt động kinh doanh: Cản trở hoặc gián đoạn hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp
- Lôi kéo khách hàng bất chính: Đưa thông tin gian dối hoặc so sánh không chứng minh để thu hút khách hàng
- Bán dưới giá thành: Cố ý bán hàng hóa/dịch vụ dưới giá thành để loại bỏ đối thủ
- Hành vi khác: Các hành vi vi phạm quy định của luật khác, như sử dụng nhãn hiệu gây nhầm lẫn
2. Hành vi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật
Theo Điều 110 Luật Cạnh tranh 2018 quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm, hình thức xử lý vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Theo đó, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Các hình thức xử phạt chính bao gồm cảnh cáo và phạt tiền.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung, như:
- Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh.
- Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm.
Ngoài ra, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả, như:
- Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền.
- Loại bỏ điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao dịch kinh doanh.
- Chia, tách, bán lại một phần hoặc toàn bộ vốn góp, tài sản của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế.
- Chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế.
- Cải chính công khai.
- Các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động của hành vi vi phạm.
Như vậy, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo Điều 16, 18, 20 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); đồng thời phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
3. Có thể khởi kiện khi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh không?
Khoản 1 Điều 110 Luật Cạnh tranh 2018 khẳng định rằng tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh mà gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm bồi thường này phát sinh khi có đủ các căn cứ được quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:
- Có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh dẫn đến xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác.
- Có thiệt hại thực tế xảy ra.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại: hành vi xâm phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, và thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm.
Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được mức bồi thường hợp lý, hoặc đối thủ cạnh tranh không đồng ý bồi thường, bên bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Tòa án Nhân dân có thẩm quyền (Tòa án Nhân dân cấp quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở) để yêu cầu giải quyết, căn cứ theo quy định tại Khoản 6 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Lưu ý rằng nếu vụ án có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền giải quyết sẽ thuộc về Tòa án Nhân dân cấp tỉnh (Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015).
Việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể được thực hiện sau khi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực pháp luật, hoặc cũng có thể khởi kiện ngay tại Tòa án mà không cần phải khiếu nại vụ việc tới Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
III. Giải đáp một số câu hỏi pháp lý về việc bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh
1. Cơ quan nào có thẩm quyền xử lý khi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh?
Theo quy định tại Điều 76 Luật Cạnh tranh 2018, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh và đánh giá các thông tin, chứng cứ về hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh do tổ chức, cá nhân cung cấp. Đây là cơ quan có thẩm quyền điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, đối với một số hành vi vi phạm hành chính đơn giản, Sở Công Thương địa phương cũng có thẩm quyền xử lý trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Khi nào hành vi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh bị xử lý hình sự?
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể bị xử lý hình sự nếu đáp ứng các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Điều 217 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh, với các dấu hiệu cụ thể như:
- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh.
- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận.
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên và thực hiện một trong các hành vi: ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
Để truy cứu trách nhiệm hình sự, cần chứng minh được rằng hành vi vi phạm có tính chất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp khác hoặc ảnh hưởng đến cạnh tranh trên thị trường.
3. Hậu quả pháp lý khi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh
Hậu quả pháp lý mà doanh nghiệp phải gánh chịu khi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh là rất lớn. Về phía bên vi phạm, theo Điều 110 Luật Cạnh tranh 2018, họ có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm. Ngoài ra, bên vi phạm còn phải bồi thường thiệt hại nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Về phía doanh nghiệp bị thiệt hại, hậu quả có thể bao gồm:
- Mất doanh thu và lợi nhuận: Doanh thu bán hàng giảm sút, thị phần bị thu hẹp do khách hàng chuyển sang sử dụng sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh không lành mạnh.
- Suy giảm uy tín và thương hiệu: Mất lòng tin của khách hàng, ảnh hưởng đến hình ảnh của doanh nghiệp do các hành vi gièm pha, nói xấu, quảng cáo sai sự thật từ đối thủ.
- Chi phí pháp lý: Phát sinh các chi phí liên quan đến việc thuê luật sư, thu thập chứng cứ, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
- Mất thời gian và công sức: Mất thời gian và công sức cho việc giải quyết tranh chấp và khôi phục hoạt động kinh doanh.
4. Bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh có được yêu cầu bồi thường thiệt hại không
Theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Điều này được khẳng định tại khoản 1 Điều 110 Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Mức bồi thường sẽ căn cứ vào các thiệt hại thực tế đã xảy ra (ví dụ: giảm doanh thu, chi phí khắc phục hậu quả, chi phí thuê luật sư…) và được chứng minh bằng các chứng cứ hợp pháp.
5. Có thể tố cáo hành vi bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh ở đâu và như thế nào?
Khi phát hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, doanh nghiệp có thể tố cáo đến các cơ quan sau:
- Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia: Nộp đơn khiếu nại, kèm bằng chứng (bài viết, hợp đồng, email) và mô tả thiệt hại (Điều 76 luật cạnh tranh 2018).
- Sở Công Thương địa phương: Xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi địa phương.
- Cục Sở hữu trí tuệ: Nếu hành vi liên quan đến nhãn hiệu hoặc tên miền (Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ).
Thủ tục tố cáo:
- Chuẩn bị đơn khiếu nại, nêu rõ hành vi vi phạm và thiệt hại.
- Cung cấp bằng chứng (ảnh chụp, video, tài liệu).
- Nộp trực tiếp, qua bưu điện hoặc qua email của cơ quan thẩm quyền.
IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý về việc bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh
NPLaw cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý chuyên nghiệp và toàn diện về việc bị các cơ sở khác cạnh tranh không lành mạnh, giúp doanh nghiệp:
- Tư vấn về các quy định pháp luật liên quan đến cạnh tranh và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
- Nhận diện và phân tích các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thu thập chứng cứ và xây dựng hồ sơ vụ việc để chứng minh hành vi vi phạm.
- Đại diện khách hàng tham gia đàm phán, hòa giải với bên vi phạm để đạt được thỏa thuận bồi thường thiệt hại.
- Soạn thảo đơn khởi kiện và tham gia tố tụng tại tòa án hoặc cơ quan quản lý cạnh tranh để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.
- Tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý về các quy định pháp luật về cạnh tranh và cách phòng ngừa rủi ro.
Hãy liên hệ với NPLaw ngay hôm nay để được tư vấn và hỗ trợ pháp lý chuyên nghiệp, đảm bảo hoạt động kinh doanh hợp pháp, bảo vệ uy tín thương hiệu và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường.