Đặt tên nhãn hiệu là một hoạt động quan trọng trong trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua bài viết này, NPLaw xin gửi đến Quý bạn đọc bài viết pháp lý cung cấp những thông tin pháp lý cần thiết liên quan đến đặt tên nhãn hiệu.
Đặt tên nhãn hiệu là một hoạt động quan trọng trong trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua bài viết này, NPLaw xin gửi đến Quý bạn đọc bài viết pháp lý cung cấp những thông tin pháp lý cần thiết liên quan đến đặt tên nhãn hiệu.
I. Tổng quan về đặt tên nhãn hiệu
Tên nhãn hiệu gắn liền với sự hình thành, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp, do đó, việc đặt tên nhãn hiệu là một hoạt động quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện. Trên thực tế, theo Cục Sở hữu trí tuệ, năm 2024 Việt Nam đã tiếp nhận 63.961 đơn đăng ký nhãn hiệu quốc gia. Nhìn chung, số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam có xu hướng tăng trong những năm gần đây do nhận thức về bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp ngày càng cao.
II. Quy định pháp luật về đặt tên nhãn hiệu
1. Thế nào là đặt tên nhãn hiệu
Hiện nay, không có định nghĩa pháp lý riêng đối với khái niệm đặt tên nhãn hiệu. Theo tổng hợp các định nghĩa pháp lý có liên quan của pháp luật Việt Nam hiện hành, việc đặt tên nhãn hiệu được hiểu là việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục Sở hữu trí tuệ).
2. Điều kiện để đặt tên nhãn hiệu
Khi đặt tên nhãn hiệu phải đáp ứng các điều kiện sau đây theo Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định:
- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
- Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.
3. Khi đặt tên nhãn hiệu cần lưu ý những gì
Khi đặt tên nhãn hiệu, cần lưu ý tránh để nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt với các nhãn hiệu khác. Căn cứ theo Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
- Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến;
- Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
- Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;
- Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;
- Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 của Luật này;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hoá;
- Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
- Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu.
Ngoài ra, khi đặt tên nhãn hiệu cần lưu ý tên nhãn hiệu được đặt phải đảm bảo không dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ.
III. Một số thắc mắc thường gặp về đặt tên nhãn hiệu
1. Đặt tên nhãn hiệu có thể trùng với tên nhãn hiệu khác không?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau:
“Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
…
2. Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;”
Như vậy, trường hợp tên nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu khác đã được sử dụng trước đó trong cùng lĩnh vực và cũng khu vực kinh doanh là không phù hợp quy định pháp luật. Nếu nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu khác nhưng không cũng lĩnh vực và khu vực kinh doanh thì pháp luật hiện hành không hạn chế.
2. Làm thế nào để đảm bảo đặt tên nhãn hiệu không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác?
Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ pháp lý, văn phòng luật, công ty luật đều cung cấp các dịch vụ kiểm tra, rà soát nhãn hiệu nhằm hạn chế rủi ro nhãn hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác nên không thể đăng ký. Các dịch vụ này thông thường được cung cấp dưới 02 dạng: tra cứu cơ bản với độ chính xác khoảng 60-70% và tra cứu chuyên sâu với độ chính xác cao hơn.
Để đảm bảo đặt tên nhãn hiệu không vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác, doanh nghiệp có thể sử dụng các dịch vụ tra cứu nhãn hiệu được các bên cung cấp trên thị trường.
3. Đặt tên nhãn hiệu có thể thay đổi tên sau khi đã đăng ký không?
Theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, nhãn hiệu đã đăng ký chỉ có thể sửa đổi trong một số trường hợp nhất định và với những giới hạn cụ thể. Cụ thể, doanh nghiệp có thể sửa đổi các yếu tố không làm thay đổi bản chất của nhãn hiệu đã đăng ký, ví dụ như thay đổi màu sắc hoặc kích thước nhãn hiệu, miễn là không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng hoặc ảnh hưởng đến tính phân biệt của nhãn hiệu.
Hiện nay, pháp luật ghi nhận việc thay đổi thông tin trên Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu trong các trường hợp sau:
- Thay đổi về thông tin chủ Văn bằng bảo hộ như: tên, địa chỉ, người đại diện,...
- Thay đổi chủ văn bằng bảo hộ (chuyển dịch quyền sở hữu do thừa kế, kế thừa, sáp nhập, chia, tách, hợp nhất, liên doanh, liên kết, thành lập pháp nhân mới của cùng chủ sở hữu, chuyển đổi hình thức kinh doanh hoặc theo quyết định của Tòa án hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác);
- Sửa đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.
Trong trường hợp này, người yêu cầu ghi nhận thay đổi phải nộp lệ phí sửa đổi văn bằng bảo hộ, lệ phí công bố quyết định ghi nhận sửa đổi văn bằng bảo hộ.
Chủ sở hữu nhãn hiệu không được đề nghị thay đổi mẫu nhãn hiệu. Khi thay đổi mẫu nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ phải tiến hành nộp đơn đăng ký nhãn hiệu mới. Việc thay đổi tên nhãn hiệu sau khi đã đăng ký nhãn hiệu không thuộc các trường hợp được phép nêu trên.
Như vậy, tên nhãn hiệu đã đặt không thể thay đổi sau khi đã đăng ký.
4. Khi đặt tên nhãn hiệu bị tranh chấp, doanh nghiệp phải làm gì?
Trong trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến nhãn hiệu làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể yêu cầu bên vi phạm chấm dứt ngay hành vi đó và bồi thường thiệt hại (nếu có) gây ra đối với doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tiến hành thủ tục thương lượng và hòa giải có thể giúp tiết kiệm chi phí do các bên không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, việc thi hành kết quả thương lượng, hòa giải là do các bên tự nguyện mà không bị chế tài pháp luật ràng buộc, do đó có rủi ro bên vi phạm không thực hiện các cam kết giữa các bên.
Trong trường hợp muốn xử lý cứng rắn và có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp có thể giải quyết thông qua hình thức tố tụng hoặc yêu cầu các Cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính với các vi phạm quyền sở hữu trí tuệ , bao gồm thanh tra, quản lý thị trường, hải quan, công an và ủy ban nhân dân các cấp. Đây là các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

IV. Dịch vụ tư vấn pháp lý liên quan đến đặt tên nhãn hiệu
Hiểu được nhu cầu tìm hiểu pháp lý về đặt tên nhãn hiệu của Quý Khách hàng, Hãng luật NPLaw với bề dày kinh nghiệm trong đa dạng lĩnh vực sẽ hỗ trợ, tư vấn cho Quý Khách hàng các vấn đề liên quan đến đặt tên nhãn hiệu. Quý độc giả có thể liên hệ ngay tới NPLaw để được các luật sư dày dặn kinh nghiệm của NPLaw tư vấn tận tình và nhanh chóng với thông tin liên hệ dưới đây: