Không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ là một trong những trường hợp thường xảy ra phổ biến trong doanh nghiệp. Bài viết dưới đây, sẽ nêu các quy định pháp luật về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ và giải đáp một số thắc mắc liên quan nhằm giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

I. Vai trò của đào tạo ATVSLĐ trong doanh nghiệp

Đào tạo an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) là hoạt động cốt lõi giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, phòng ngừa tai nạn và bệnh nghề nghiệp, đồng thời nâng cao năng suất lao động. Cụ thể:

  • Tuân thủ pháp luật: Đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật về ATVSLĐ, tránh bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự khi xảy ra sự cố.
  • Phòng ngừa tai nạn và bệnh nghề nghiệp: Trang bị kiến thức để người lao động nhận diện nguy cơ, mối nguy hiểm, từ đó chủ động phòng tránh tai nạn lao động và các bệnh nghề nghiệp, bảo vệ tính mạng, sức khỏe.
  • Nâng cao nhận thức và ý thức: Hình thành tác phong làm việc an toàn, văn hóa an toàn trong doanh nghiệp, giúp người lao động tự giác tuân thủ quy trình.
  • Nâng cao uy tín: Khẳng định hình ảnh chuyên nghiệp, trách nhiệm của doanh nghiệp trong mắt đối tác, khách hàng và thị trường lao động.

Theo đó, đào tạo ATVSLĐ trong doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nhân lực và duy trì sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

II. Khái niệm về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ

Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ. Hãy cùng NPLaw tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.

1. Không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ là gì?

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 định nghĩa vệ sinh, an toàn lao động như sau:

  • An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
  • Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.

Theo đó, khái niệm về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) được hiểu là các giải pháp nhằm phòng, chống tác động của các yếu tố gây hại như bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động.hoặc các yếu tố gây nguy hiểm gây thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.

Như vậy, không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ là hành vi vi phạm pháp luật lao động, trong đó người sử dụng lao động không thực hiện nghĩa vụ huấn luyện lại hoặc cập nhật kiến thức an toàn cho nhân viên sau một khoảng thời gian nhất định.

2. Sự khác biệt giữa đào tạo ATVSLĐ ban đầu và đào tạo định kỳ

Căn cứ theo Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và Điều 21 Nghị định 44/2016/NĐ-CP, sự khác biệt chính giữa đào tạo ATVSLĐ ban đầu và đào tạo định kỳ nằm ở đối tượng, thời điểm tổ chức, nội dung và mục tiêu đào tạo. Cụ thể:

- Đối tượng:

  • Đào tạo ATVSLĐ ban đầu: Người lao động mới tuyển dụng, người mới chuyển vị trí công việc và thuộc đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo Điều 17 Nghị định 44/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 140/2018/NĐ-CP gồm: Người quản lý phụ trách an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác y tế, an toàn, vệ sinh viên trong cơ sở sản xuất, kinh doanh phải tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và được tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cấp giấy chứng nhận sau khi kiểm tra, sát hạch đạt yêu cầu.
  • Đào tạo định kỳ: Người lao động đã được huấn luyện lần đầu và đang làm việc, người sử dụng lao động định kỳ huấn luyện lại nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao.

- Thời điểm:

  • Đào tạo ATVSLĐ ban đầu: Trước khi bố trí công việc hoặc ngay khi nhận việc.
  • Đào tạo định kỳ: Hằng năm hoặc định kỳ ít nhất 02 năm một lần tùy nhóm đối tượng theo quy định tại Điều 21 Nghị định 44/2016/NĐ-CP.

- Thời gian:

  • Đào tạo ATVSLĐ ban đầu: Thường dài hơn so với đào tạo định kỳ tùy nhóm đối tượng theo Điều 19 Nghị định 44/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 140/2018/NĐ-CP.
  • Đào tạo định kỳ: Thời gian huấn luyện ít nhất bằng 50% thời gian huấn luyện lần đầu theo Điều 21 Nghị định 44/2016/NĐ-CP.

Nhìn chung, sự khác biệt giữa đào tạo ATVSLĐ ban đầu và đào tạo định kỳ được thể hiện cơ bản như trên.

3. Không tổ chức đào tạo ATVSLĐ định kỳ có thể gây ra những hậu quả gì?

Việc không tổ chức đào tạo ATVSLĐ định kỳ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với doanh nghiệp và người lao động có thể kể đến như:

- Nguy cơ về an toàn và sức khỏe người lao động:

  • Gia tăng tai nạn lao động: Người lao động thiếu kiến thức về phòng ngừa rủi ro dễ dẫn đến các sai sót nguy hiểm, gây thương tật hoặc tử vong.
  • Bệnh nghề nghiệp: Thiếu kiến thức về an toàn vệ sinh lao động khiến nhân viên không biết cách tự bảo vệ trước các yếu tố độc hại, làm suy giảm sức khỏe lâu dài. 

- Xử phạt hành chính: Doanh nghiệp không tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho người lao động sẽ bị phạt tiền theo mức độ vi phạm theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 12/2022/NĐ-CP tùy theo số người vi phạm với mức phạt tiền lên đến 50.000.000 đồng.

Ngoài ra, nếu để xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng cho người lao động do thiếu đào tạo, huấn luyện ATVSLĐ chủ doanh nghiệp có thể bị truy tố theo quy định của pháp luật hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

- Tổn thất kinh tế và uy tín: Doanh nghiệp phải bồi thường cho người bị nạn, chi trả chi phí điều trị và khắc phục sự cố. Dẫn đến gián đoạn hoạt động sản xuất, dây chuyền bị dừng hoạt động do tai nạn lao động. Và uy tín thương hiệu của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng, gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự chất lượng cao. 

Tóm lại, không tổ chức đào tạo ATVSLĐ định kỳ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, sức khỏe, tính mạng người lao động và uy tín của doanh nghiệp.

III. Quy định của pháp luật liên quan đến không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ

Tìm hiểu các quy định về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ là nhu cầu và mong muốn của nhiều chủ thể. Hiểu được điều này, NPLaw đưa ra các quy định về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ theo quy định mới nhất hiện nay.

1. Đối tượng nào bắt buộc phải tham gia hoạt động an toàn vệ sinh lao động?

- Theo khoản 1 Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người quản lý phụ trách an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác y tế, an toàn, vệ sinh viên trong cơ sở sản xuất, kinh doanh phải tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và được tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cấp giấy chứng nhận sau khi kiểm tra, sát hạch đạt yêu cầu.

- Đồng thời theo Điều 17 Nghị định 44/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Nghị định 140/2018/NĐ-CP cũng quy định đối tượng tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động gồm:

  • Nhóm 1: Người đứng đầu đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh và phòng, ban, chi nhánh trực thuộc; phụ trách bộ phận sản xuất, kinh doanh, kỹ thuật; quản đốc phân xưởng hoặc tương đương; cấp phó của người đứng đầu theo quy định tại Khoản này được giao nhiệm vụ phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động.
  • Nhóm 2: Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Chuyên trách, bán chuyên trách về an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở; người trực tiếp giám sát về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
  • Nhóm 3: Người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động là người làm công việc thuộc Danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động do Bộ Nội vụ ban hành.
  • Nhóm 4: Người lao động không thuộc các nhóm 1, 3, 5, 6 quy định tại Điều này, bao gồm cả người học nghề, tập nghề, thử việc để làm việc cho người sử dụng lao động.
  • Nhóm 5: Người làm công tác y tế.
  • Nhóm 6: An toàn, vệ sinh viên theo quy định tại Điều 74 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.

Theo đó, đối tượng nêu trên bắt buộc phải tham gia hoạt động an toàn vệ sinh lao động.

2. Nội dung đào tạo ATVSLĐ theo quy định pháp luật bao gồm những gì?

Theo Điều 18 Nghị định 44/2016/NĐ-CP, nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động như sau:

- Huấn luyện nhóm 1:

a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh.

- Huấn luyện nhóm 2:

a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; phân tích, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp; xây dựng hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động; nghiệp vụ công tác tự kiểm tra; công tác điều tra tai nạn lao động; những yêu cầu của công tác kiểm định, huấn luyện và quan trắc môi trường lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cấp cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động; công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, thống kê, báo cáo công tác an toàn, vệ sinh lao động;

c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh yếu tố nguy hiểm, có hại; quy trình làm việc an toàn với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.

- Huấn luyện nhóm 3:

a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

b) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp;

c) Nội dung huấn luyện chuyên ngành: Kiến thức tổng hợp về máy, thiết bị, vật tư, chất phát sinh các yếu tố nguy hiểm, có hại và phương pháp phân tích, đánh giá, quản lý rủi ro liên quan đến công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mà người được huấn luyện đang làm; quy trình làm việc an toàn, vệ sinh lao động; kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến công việc của người lao động.

- Huấn luyện nhóm 4:

a) Kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động; chính sách, chế độ về an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và phương pháp cải thiện điều kiện lao động; chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh; nội quy an toàn, vệ sinh lao động, biển báo, biển chỉ dẫn an toàn, vệ sinh lao động và sử dụng các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân, nghiệp vụ, kỹ năng sơ cứu tai nạn lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp.

b) Huấn luyện trực tiếp tại nơi làm việc: Quy trình làm việc và yêu cầu cụ thể về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.

- Huấn luyện nhóm 5:

a) Hệ thống chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

b) Nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động bao gồm: Tổ chức bộ máy, quản lý và thực hiện quy định về an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động; kiến thức cơ bản về yếu tố nguy hiểm, có hại, biện pháp phòng ngừa, cải thiện điều kiện lao động; văn hóa an toàn trong sản xuất, kinh doanh.

- Huấn luyện nhóm 6: Người lao động tham gia mạng lưới an toàn, vệ sinh viên ngoài nội dung huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định còn được huấn luyện bổ sung về kỹ năng và phương pháp hoạt động của an toàn, vệ sinh viên.

Vậy, nội dung đào tạo ATVSLĐ theo quy định pháp luật bao gồm những vấn đề nêu trên.

3. Ai có thẩm quyền tổ chức hoặc giảng dạy các lớp ATVSLĐ?

- Theo khoản 2 Điều 20 Nghị định 44/2016/NĐ-CP quy định tổ chức huấn luyện, doanh nghiệp tự huấn luyện căn cứ chương trình khung huấn luyện, xây dựng chương trình, tài liệu huấn luyện phù hợp với đặc điểm, điều kiện và yêu cầu thực tế huấn luyện.

- Theo khoản 7 Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật đầu tư và Luật này.

Trường hợp doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì phải đáp ứng điều kiện hoạt động như đối với tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

Theo quy định nêu trên, thẩm quyền tổ chức hoặc giảng dạy các lớp ATVSLĐ là tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động, người huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 22 Nghị định 44/2016/NĐ-CP hoặc do chính doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

4. Không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ bị xử phạt như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với người sử dụng lao động có hành vi không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định của pháp luật hoặc thỏa thuận với tổ chức hoạt động huấn luyện không huấn luyện mà nhận kết quả huấn luyện hoặc sử dụng người lao động không được cấp thẻ an toàn theo quy định của pháp luật làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trước khi bố trí làm công việc này theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người trở lên.

Có thể thấy, hành vi không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ bị xử phạt tiền với mức phạt cao nhất lên đến 50.000.000 đồng.

IV. Giải đáp các vấn đề thắc mắc thường gặp liên quan đến không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ

Để hiểu rõ hơn các quy định về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ, sau đây là một số câu hỏi và giải đáp thắc mắc về vấn đề này.

1. Chi phí đào tạo ATVSLĐ do ai chi trả?

Theo khoản 2, 4 Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định như sau:

- Người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện cho người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí làm công việc này.

- Người sử dụng lao động tự tổ chức huấn luyện và chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, người học nghề, tập nghề, người thử việc trước khi tuyển dụng hoặc bố trí làm việc và định kỳ huấn luyện lại nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao.

Theo khoản 1 và điểm d khoản 2 Điều 56 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 được hướng dẫn bởi Mục 5 Chương III Nghị định 88/2020/NĐ-CP và Điều 32 Nghị định 88/2020/NĐ-CP thì người sử dụng lao động được nhận kinh phí hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động khi có đủ các điều kiện quy định từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Do đó, chi phí đào tạo ATVSLĐ do người lao động chịu trách nhiệm chi trả và được sự hỗ trợ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện.

2. Không tổ chức đào tạo ATVSLĐ có ảnh hưởng đến bảo hiểm tai nạn lao động không?

Theo điểm b khoản 2 Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động có nghĩa vụ tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Và tại điểm c khoản 1 Điều 6 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người lao động có quyền được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Tại khoản 2 Điều 43 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 88/2020/NĐ-CP, trường hợp người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo từng hợp đồng lao động đã giao kết nếu người lao động thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người lao động được giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo nguyên tắc đóng, hưởng do Chính phủ quy định.

Đồng thời tại khoản 1 Điều 32 Nghị định 88/2020/NĐ-CP cũng quy định người sử dụng lao động được nhận kinh phí hỗ trợ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động quy định tại khoản 4 Điều 56 Luật An toàn, vệ sinh lao động khi người sử dụng lao động có thời gian liên tục đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng đề nghị hỗ trợ huấn luyện từ đủ 12 tháng trở lên cho đến tháng đề nghị hỗ trợ kinh phí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

Vậy, việc người sử dụng lao động không tổ chức đào tạo ATVSLĐ có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi về bảo hiểm tai nạn lao động của người lao động và việc không tổ chức đào tạo là hành vi vi phạm về ATVSLĐ theo quy định pháp luật.

3. Doanh nghiệp có thể tự tổ chức đào tạo ATVSLĐ hay phải thuê đơn vị bên ngoài?

Theo khoản 2, 4, 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về tổ chức đào tạo ATVSLĐ như sau:

Người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện cho người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí làm công việc này.

Người sử dụng lao động tự tổ chức huấn luyện và chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, người học nghề, tập nghề, người thử việc trước khi tuyển dụng hoặc bố trí làm việc và định kỳ huấn luyện lại nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao.

Trường hợp doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì phải đáp ứng điều kiện hoạt động như đối với tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

Có thể thấy, doanh nghiệp có thể thuê đơn vị, tổ chức đào tạo bên ngoài hoặc tự tổ chức đào tạo ATVSLĐ và phải đáp ứng điều kiện hoạt động như đối với tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động.

4. Có bắt buộc phải lưu hồ sơ chứng minh đã tổ chức đào tạo ATVSLĐ không?

Căn cứ khoản 3 Điều 3 Thông tư 31/2018/TT-BLĐTBXH quy định hồ sơ khóa huấn luyện, tập huấn về an toàn, vệ sinh lao động phải được tổ chức huấn luyện lưu giữ bao gồm chương trình huấn luyện (nội dung, thời gian, địa điểm huấn luyện), danh sách người học.

Và theo khoản 5 Điều 8 Thông tư 31/2018/TT-BLĐTBXH quy định trách nhiệm của Tổ chức huấn luyện là lưu giữ đầy đủ hồ sơ, giấy tờ liên quan đến hoạt động huấn luyện, tập huấn an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư này trong thời hạn đủ 10 năm kể từ khi kết thúc hoạt động huấn luyện; xuất trình khi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

Như vậy, phải lưu hồ sơ chứng minh đã tổ chức đào tạo ATVSLĐ và thời gian lưu trữ hồ sơ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động là đủ 10 năm, kể từ khi kết thúc hoạt động huấn luyện.

5. Nếu doanh nghiệp đã tổ chức đào tạo nhưng không đầy đủ nội dung thì có bị coi là vi phạm không?

Theo điểm b khoản 3 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi tự tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động mà vi phạm quy định về hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: huấn luyện bắt buộc theo chương trình khung được pháp luật quy định nhưng không đủ nội dung. Và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc người sử dụng lao động tự tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động hủy kết quả huấn luyện đã cung cấp khi có hành vi vi phạm quy định trên theo điểm b khoản 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Kết luận lại, nếu doanh nghiệp đã tổ chức đào tạo nhưng không đầy đủ nội dung thì bị coi là vi phạm quy định pháp luật và bị xử phạt hành chính với mức phạt như trên.

V. Tại sao nên tìm luật sư tư vấn ở NPLaw khi có vấn đề về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ?

Trên đây là thông tin giải đáp vướng mắc về không tổ chức các lớp đào tạo ATVSLĐ định kỳ mà NPLaw gửi đến Quý độc giả. Với đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý giàu kinh nghiệm, NPLaw cung cấp dịch vụ pháp lý uy tín, chuyên nghiệp, đảm bảo tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho Quý Khách hàng. Nếu cần hỗ trợ về vấn đề pháp lý, bạn có thể liên hệ NPLaw để được tư vấn về hỗ trợ.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.